taysonquynhon's Blog

Một thời học trò để nhớ về

Tản mạn chữ tình

Tác giả: Trần Minh Nguyệt

Hoa phong lan (Ảnh tự chụp)

Thật là diễm phúc khi được làm  người và  có mặt trên  thế gian đầy sinh động và thử thách này ,.Hàng ngày được hít thở an bình thong dong, được bên cạnh người ta yêu thương,được trải lòng hòa cùng với  thiên nhiên  vạn vật –  sông núi, chim muông, hoa lá, ruộng đồng tuyệt đẹp của quê hương.Thế giới mà chúng ta đang sống thơ mộng và đáng yêu biết bao!

Thời gian mà mỗi chúng ta được sống chỉ là một khoảnh khắc  thật ngắn ngủi. bé nhỏ- so với sự có mặt của vũ tru!. Nhưng, khoảnh khắc này không chia đều với mọi người. Do vậy- trong mỗi phút giây của đời sống-chúng ta hãy sống thế nào để khi xuôi tay về với đất mẹ thân yêu không còn gì ân hận hay hối tiếc nữa? Con người bên nhau ràng buộc bởi  một chữ “ Tình”- nếu đời sống không còn chữ”  tình “ thiêng liêng cao quý này thì sống hay chết có nghĩa gì đâu?

”Chữ Tình” khó định nghĩa hay giải thích được rốt ráo bằng lý trí cụ thể vì nó xuất phát từ  cái Tâm  vi tế mà ra! Nhưng hầu  trong mỗi chúng ta  tất cả đều mang sẵn trong máu thịt cái tình bao la của non nước, tình với những người thân yêu, bạn bè, đồng loại và tình yêu đôi lứa.

Tình non nước có trong hình hài chúng ta từ khi sinh ra- có điều tình cảm này ẩn sâu trong lòng khó phát hiện-chỉ bùng lên khi gặp cảnh ngộ .Ai mà không cảm thấy lóng nặng trĩu khi đất nước lâm nguy, sanh linh lầm than đói khổ.? Chúng ta cảm thấy xót xa khi đất nước còn lạc hậu -đói nghèo, và vui mừng khi quốc gia hưng thịnh- người người được ấm no hạnh phúc.  Hàng ngày, chúng ta cũng rất thường bắt gặp đâu đó tình non nước dạt dào trong ta . Ví như gần đây- đội tuyển  bóng đáViệt Nam tranh huy chương vàng Sea Game với Malyasia,- chúng ta đã hồi họp từng giây phút  mong có bàn thắng để đất nược được vang danh- nhưng , thật buồn khi đội tuyển bóng đá Việt Nam thất bại.(!)

Con người là sinh vật cao nhất trên hành tinh này. Tình đồng loại phải đứng trên muôn loài. Chúng ta  ao ước được sống thuận hòa, sẻ chia cùng nhau niềm vui, nỗi buồn- nương tựa vào nhau để xây dựng cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Được như vậy thì tâm sẽ an lạc biết bao? Vậy mà có lắm người làm ngơ , sống ích kỉ, tham đắm- chỉ biết  thân mình, mê mải danh lợi-thậm chí đã làm điều bất nhân (…) thì liệu cuộc sống có yên ổn không? Có an hưởng được những điều kỳ diệu từ cuộc sống mang lại không? Hay là sẽ luôn sống trong phiền muôn, lo âu-và vô ích?

Người ta thường nói” Nước mắt chảy xuôi”- Ông bà cha mẹ là những người đã dồn hết tình thương yêu cho ta, nuôi dưỡng và dạy ta nên người. Được sinh ra thể xác ta là một con người, nhưng để trở thành một con người toàn vẹn đúng nghĩa -cả phần xác lẫn phần hồn,- mỗi người đều phải tự mình hướng đời sống sao không thẹn vời đất trời –không phụ   công ơn trời biển của , ông  bà,  cha mẹ, thầy cô và bằng hữu- những người thân yêu  của chúng ta. Khi chúng ta thất vọng- buồn đau, ai không muốn sà vào lòng những người thân mà khóc, mà tìm sự an ủi.? Giữa cuộc sống bộn bề bon chen hôm nay, nếu mãi vui  sống cho riêng bản thân, chạy theo hệ lụy của đời thường( …) thì sẽ có lúc chúng ta lãng quên người thân, bè bạn!  Nhưng trong sâu thẳm lòng mình sẽ mãi còn nguyên một tình yêu bất tận. Bởi lẽ dễ hiểu là- những người thân yêu, bạn bè (…) vẫn ở trong trái tim “ con người” của chúng ta.!

Tình Yêu làm cho  đời sống của chúng ta thêm ý nghĩa- cao đẹp- và hạnh phúc-nhưng đôi khi cũng làm cho trái tim ta đớn đau, ứa lệ! Làm cho đời ta khốn đốn, tối tăm!  Nhưng -Tình yêu vẫn mãi làm cho trái tim ta  se thắt nhớ, quắt quay buồn thương. Khi đã thực lòng yêu thương-trọn tình trao gởi- thì hình bóng ai kia sẽ theo ta cả cuộc đời! Nó được lưu giữ trong tim ta, trong mọi ý nghĩ và cả trong những giấc mơ  hằng đêm. Khi yêu nhau, dường hai trái tim xa cách đều có một “thần giao cách cảm “ dịêu kỳ!  Đời sống  mà  được tri âm, tri kỉ  thì hạnh phúc biết bao?

Chữ Tình khó có thể diễn đạt rành rẽ thành lời! Nó ẩn sâu trong tâm mỗi chúng ta. Tôi chỉ ước mong và hi vọng một điều- chúng ta không  đánh mất “Chữ Tình” thiêng liêng mầu nhiệm để được cùng nhau sống an vui   của kiếp nhân sinh nơi cõi tạm nhưng vô cùng yêu dấu này!

Nguồn: vanchuongviet

Advertisements

16.12.2010 Posted by | Bài viết | , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Sinh Nhật của Một Người Không Còn Trẻ

Ảnh chụp năm 1970 tại trường Tây Sơn_Quy Nhơn

Hàng trên: Lữ Quỳnh –  Châu Văn Thuận – Đặng Tấn Tới – Tôn Thất Bút – Nguyễn Chí Kham – Phạm Mạnh Hiên – Võ Chân Cửu.

Hàng dưới: Vũ Phan Long – Nguyễn Mộng Giác – Hoàng Ngọc Tuấn.

Nguồn : vanchuongviet.org  posted by Nguyễn Thị Hải Hà

Lữ Quỳnh

Sinh nhật tôi

Một ngày tháng Chạp

Những ngọn nến thắp

Là hồi ức buồn.

 

Chiều mưa trên thành phố nhỏ

Em quấn khăn quàng cổ màu xanh

Như tranh Đinh Cường Thời Thiếu Nữ

Tôi không còn trẻ để cầm tay em nữa

Nhưng lòng luôn sẵn lửa cho em.

Trái của đời dù đắng

Thèm rượu mà ta không uống được

Bạn thì xa tri kỷ cũng đi rồi

Tay với trời cao không thấu nỗi

Tuổi già mất bạn cũng mồ côi.

Vài dòng tiểu sử:

Lữ Quỳnh tên thật là Phan Ngô, sinh năm 1942, tại Thừa Thiên – Huế.  Đã viết trên các tạp chí Bách Khoa, Mai, Phổ Thông, Ý Thức, Thời Nay, Thời Tập, . . . và nhiều tạp chí khác trước năm 1975 ở Việt Nam và Văn Học, Khởi Hành, . . . sau năm 2001 ở hải ngoai.

Tác phẩm đã in:

– Cát Vàng (tập truyện, Ý Thức Sài Gòn, 1971)

– Sông Sương Mù (tập truyện, Ý Thức Sài Gòn, 1973)

– Những Cơn Mưa Mùa Đông (Truyện dài, Nam Giao Sài Gòn, cưối năm 1974)

– Vườn Trái Đắng (Truyện dài, đăng nhiều kỳ trên Ý Thức, 1971 – 1972)

03.06.2010 Posted by | Văn học - Nghệ thuật | , | 3 phản hồi

“Thất trảm sớ” và nhân cách của một con người

Nguồn : vanchuongviet.org

Ảnh có tính minh họa

Đinh Kim Phúc

Chu Văn An (1292–1370), tên thật là Chu An, hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ là Linh Triệt. Quê ông ở làng Văn Thôn xã Quang Liệt huyện Thanh Đàm (nay thuộc phường Hoàng Liệt quận Hoàng Mai, Hà Nội). Là người chính trực, đã từng đỗ Thái học sinh (danh hiệu tiến sĩ đời Trần) nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung, bên kia sông Tô Lịch. Học trò nhiều nơi tìm đến theo học rất đông. Trong số môn đệ ông có nhiều người thành đạt, thi đỗ ra làm quan to trong triều như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát khi về thăm thầy vẫn giữ lễ, được thầy nói chuyện ít lời thì rất lấy làm mừng. Có những học trò cũ không tốt, ông thẳng thắn quở trách, thậm chí quát mắng không cho gặp. Tính nghiêm nghị, tư cách thanh cao và học vấn sâu rộng làm cho tiếng tăm ông ngày càng lan xa. Đức độ và uy tín của ông như vậy, khiến cho học trò đến theo học càng nhiều. Vua Trần Minh Tông (1314–1329) vời ông ra làmTư nghiệp Quốc tử giám, dạy cho Thái tử Trần Vượng (sau là vua Trần Hiển Tông). Sống trong hoàng cung và được làm bạn với quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, ông đã cùng với Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn tham gia vào công việc củng cố triều đình lúc đó đang đi dần vào con đường khủng hoảng, suy thoái.Và, nhìn lên từ đời Anh Tông, Minh Tông thấy trong triều đã nảy sinh những cận thần hèn kém, chuyên nghĩ cách làm thỏa mãn những thị hiếu của vua, còn những người thẳng thắng can ngăn thì bị cách chức (Anh Tông cách chức Phạm Mai, Minh Tông cách chức Nguyễn Trung Ngạn…) khiến ông ngao ngán. Ban đầu, Dụ Tông còn ít tuổi, quyền bính đều do Thượng hoàng Minh Tông điều khiển. Bởi thế, dù có mất mùa dân đói nhưng việc chính trị vẫn còn nền nếp. Từ năm 1358 trở đi, Thượng hoàng mất, các cựu thần như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn cũng không còn, triều đình bắt đầu rối loạn. Trần Dụ Tông chẳng những bỏ bê triều chính mà còn ra lệnh cho xây cung điện, tạo sưu cao, thuế nặng làm cho nhân dân vô cùng khổ sở và ca thán. Trong nước, giặc giã nổi lên khắp nơi. Trong khi đó tại triều đình, các bọn gian thần kéo bè kết đảng và trở nên lộng hành vô cùng. Các quan ngự sử vốn chuyên lo việc can ngăn vua nhưng cũng không làm theo. Vua Champa là Chế Bồng Nga mấy lần đem quân đánh phá kinh thành Thăng Long khiến triều Trần nhiều phen khốn đốn. Vốn là người chính trực, có uy tín cao trong triều, sau nhiều lần can ngăn Dụ Tông không được, Chu Văn An đã soạn Thất trảm sớ và dâng lên Dụ Tông để đề nghị chém 7 người mà ông cho là gian thần. Đó là Thất trảm sớ nổi tiếng trong lịch sử. Hiện Thất trảm sớ bị thất truyền nên chúng ta không rõ nội dung của nó thế nào, ngay đương thời cũng không ai được biết ông đã xin chém những ai, chỉ biết thời Dụ Tông có những tên gian thần nổi tiếng như Trâu Canh, Bùi Khoan, Trần Ngô Lang… Thế nhưng vua chỉ xem qua và im lặng. Do Thất trảm sớ không được thực hiện, Chu Văn An đã “treo mũ ở cửa Huyền Vũ”, lui về ở ẩn tại tại núi Phương Sơn thuộc làng Kiệt Đắc, huyện Chí Linh (Hải Dương). Theo ông, là người làm quan phải mạnh dạn nói lên sự thật, cốt sao cho nhân dân được no ấm, thiên hạ thái bình, triều đình vững mạnh. Hãy đem hết lòng trung nghĩa để phụng sự nhân dân. Cái quan trọng của người làm quan không phải là chức tước mà là ở phẩm cách. Giữ một chức quan nhỏ mà có ích cho đời thì đáng quý còn hơn chức tước cao trọng mà không làm gì có lợi được cho dân, cho nước thì chức tước ấy có nghĩa lý gì. Về Chí Linh, ngoài việc dạy học, Chu Văn An còn viết sách, làm thơ. Ông viết “Tứ thư thuyết ước” tổng kết bài giảng cùng phương pháp dạy học. Về thơ có “Quốc âm thi tập”, “Tiều ẩn thi tập”, “Tiều ẩn quốc ngữ thi tập”. Thời gian ông ở Chí Linh xảy ra việc Dương Nhật Lễ giữ ngôi nhà Trần. Nhưng ít lâu sau, dưới sự chỉ huy của Trần Phủ và chị gái là công chúa Thiên Ninh, lại được sự ủng hộ của Trần Nguyên Đán, Trần Ngạc… đã lấy lại được ngôi vua. Trần Phủ lên ngôi tức Trần Nghệ Tông, lúc này Chu Văn An đã gần 70 tuổi, ông vẫn chống gậy về Thăng Long để bày tỏ tấc lòng của mình với đất nước, bởi hơn ai hết, Chu Văn An kỳ vọng vị vua này có thể thay đổi thời cuộc, cứu vãn cơ đồ nhà Trần. Thế mới biết tấm lòng yêu nước sâu nặng của ông như ngó sen đã đứt mà tơ còn vương vậy. Một năm sau, ngày 28 tháng 11 năm Canh Tuất (năm 1370) ông mất tại làng Kiệt Đắc (nay là xã Văn An, Chí Linh, Hải Dương), thọ 78 tuổi. Trân trọng tài năng, nhân cách và sự cống hiến của ông, vua Nghệ Tông đã ban tên thuỵ là Văn Trinh, cho người mang lễ vật đến viếng và cho thờ ông ở Văn Miếu. Ngô Thế Vinh, nhà văn học nổi tiếng thế kỷ 19 trong bài văn bia ở đền Phương Sơn đã thích nghĩa hai chữ “Văn Trinh” như sau: (Văn, đức chi biểu dã; Trinh, đức chỉ chính cổ dã. Văn là sự bên ngoài (thuần nhất )của đức; Trinh là tính chính trực, kiên địch của đức). Tên thụy như vậy nhằm biểu dương một người đã kết hợp được hai mặt của đạo đức: bên ngoài thuần nhã, hiền hòa với bên trong chính trực, kiên định. Trong lịch sử giáo dục nước nhà, ông cũng đã giành được địa vị cao quí bậc nhất, xứng đáng đứng đầu các nhà giáo từ xưa tới nay. Ông đã vượt qua ngưỡng cửa: làm thầy giáo giỏi của một đời để đạt tới làm thầy giáo giỏi của muôn đời như Phan Huy Chú đã ngợi ca ông: “học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được”.

Thay lời kết: Trần Dụ Tông đã im lặng trước “Thất trảm sớ”. Có lẽ sự im lặng khủng khiếp đó đã một phần nào đẩy nhà Trần, một triều đại lừng lẫy chiến công trong lịch sử nhanh chóng suy thoái mà không thể nào cứu vãn được./

15.05.2010 Posted by | Web hay | , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?