taysonquynhon's Blog

Một thời học trò để nhớ về

Thèm đi dạy

Tác giả: PHÙNG HI

Về học vấn, hắn là cử nhân văn chương đại học sư phạm. Nói sợ buồn, chứ giăng mẻ lưới tại sở giáo dục tóm cả thúng văn bằng như thế mà chủ nhân của chúng đang dài cổ chờ việc.

Về gia cảnh, cha hắn theo vợ nhỏ, mẹ chưa già nhưng đau bịnh kinh niên. Hai mẹ con hắn sống với hai sào rưỡi ruộng cùng mảnh vườn nhỏ đơn côi giữa đồng, tứ bề gió thổi. Hắn chẳng mấy đẹp trai lại nhút nhát, thiệt thà và… hơi khờ. Toàn bộ tính cách hắn đóng khung vô hai chữ “đáng thương”.

Minh họa: Nguyễn Ngọc Thuần

Bốn năm trời ròng rã, hắn cút kít đạp xe từ miền quê xuống thành phố, hơn hai chục cây số cả đi lẫn về, học cho xong đại học sư phạm. Nghe mà thấy khổ cơ nào!

Cái thời kiếm đỏ mắt mới ra người học văn lẫn kẻ dạy văn có cảm xúc, cảm thán, cảm thức gì đó chuyện nghề, chuyện đời để viết góp đôi dòng văn chương, trong khi ấy hắn có nhiều cái tạp bút dễ thương về trường lớp, mấy chục bài thơ hay hay về tình bạn, tình thầy trò, năm bảy cái tiểu luận về ca dao tục ngữ, về nông thôn đăng lên báo, trải dài từ thời hắn học phổ thông. Giới văn nghệ cấp tỉnh phán một câu về hắn: “Xem ra nó cũng có chút tài đấy!”.

Đợt hắn thực tập sư phạm, có cô bé giỏi văn lớp 11 viết bài báo ca ngợi hắn tận mây xanh mây vàng, đại ý là: Thầy rất nhiệt tâm, say mê với nghề. Thầy giảng văn rất hay, rất cuốn hút. Tương lai thầy sẽ là một giáo viên giỏi, đúng mực với học sinh, hết lòng với sự nghiệp đã chọn. Bài báo điểm trúng “huyệt hành sư” của hắn.

Tốt nghiệp xong, hắn nộp đơn chờ bổ nhiệm ở sở giáo dục, rồi quay về giúp mẹ làm ruộng, nuôi gà. Mỗi ngày hắn mất 2.000 đồng tới tiệm net để liên lạc với bút nhóm Sao Xanh; do hồi kiến tập ở trường trung học phổ thông chuyên, học sinh nghe danh tìm đến bầu hắn làm trưởng nhóm. Bút viên Sao Xanh coi hắn như bậc thầy đúng nghĩa. Hắn lén thương một cô em trong nhóm rồi gửi hồn vào thơ, chứ cái nghèo đã tàn bạo chặn đứng tình cảm dạt dào trong hắn.

Ông thầy dạy văn hắn hỏi thăm:

– Em nộp đơn xin việc những đâu?

– Dạ, em chỉ nộp đơn ở sở giáo dục.

– Sao thế, em có năng khiếu viết lách mà, sao không xin vô đài phát thanh truyền hình hay tòa soạn báo thử coi?

– Thưa thầy, em chỉ duy nhất muốn đi dạy, nghề dạy học em thấy hay quá. Em thèm cảm giác đứng trên bục giảng nhìn đôi – mắt – đàn – em – long – lanh…

Thầy hắn tủm tỉm cười. Thiệt ra, muốn làm thầy đâu nhứt thiết phải đi dạy. Có kẻ cả đời đi dạy mà có ai tôn là thầy đâu. Có người không đứng lớp ngày nào vẫn có học trò tôn vinh đó thôi. Hắn hiểu chuyện đó quá đi chứ. Nhưng người lớn nên nhìn sự việc bằng con mắt trẻ trung phơi phới mới hiểu hắn thèm đi dạy biết bao. Đúng là “cá trong lờ đỏ mắt, cá ngoài lờ lúc lắc muốn vô”.

Một đàn anh từng bỏ nghề giáo sang làm nghề văn hỏi hắn:

– Nè, tạp chí Sông Ba thiếu chân biên tập, thích làm không anh xin cho? Họ cần người làm được việc chứ không cần đứa nhiều tiền.

Hắn run run trả lời:

– Dạ để em coi đã.

– Coi cái gì, có được phân công đi dạy đâu mà coi.

– Dạ lỡ vô làm, năm tới nẫu kêu đi dạy, tiếc lắm.

Người đó lấy tay day vô trán hắn:

– Em có “vấn đề” đấy nghen. Thời buổi này sao có đứa còn mê đi dạy dữ không biết!

Sáng sớm nọ “giới chữ nghĩa” tụ họp uống cà phê ở Thư Quán. Một đàn anh giỏi làm báo chí hỏi hắn:

– Ê, đài phát thanh tỉnh thiếu người biên tập trang văn nghệ đó, có làm không tao nói giúp một tiếng?

Hắn im lặng một lúc rồi mím môi nói lý nhí:

– Dạ em chỉ muốn đi dạy thôi.

Người kia đập bàn:

– Nói thiệt nghen, mấy đàn anh ngồi đây bực mình mày lâu nay rồi đó. Đi dạy hay ho gì, cứ mở miệng ra là đòi đi dạy, mà ai cho mày dạy. Mày rất đáng thương nhưng bây giờ đáng ghét lắm. Thiệt thà quá cũng đáng ghét.

Hắn cứ mãi chờ đợi “được đi dạy” mỏi mòn thân xác, mòn mỏi tinh thần. Hết xuân rồi hạ, hết thu sang đông, buồn tê tái vào mỗi dịp khai trường, ngày Hiến chương nhà giáo, ngày thành lập Đoàn… Khốn nỗi khi viết văn, văn phải vui tươi; khi làm thơ, thơ phải lạc quan yêu đời thì tác phẩm mới mong xuất hiện trên báo chí. Hắn đem mấy đồng nhuận bút đưa mẹ, mẹ hắn mắng yêu: “Cái thằng làm bộ làm tịch không à!”.

Khá lâu sau hắn đến nhà thầy dạy văn, mặt mày xanh xám nói như khóc: “Em chỉ còn mỗi con đường tự tử thôi”. Thầy hắn nghe rùng mình. Thầy thân chinh xuống sở giáo dục, phẫn nộ: “Cái thằng thiệt tốt vậy sao mấy ông không cho nó đi dạy? Nó đợi bốn năm rồi đấy, nó đòi tự tử đấy”.

Liền năm sau sở phân ngay cho hắn đi dạy trung học cơ sở ở một rẻo cao của tỉnh; đó được coi là nghĩa cử hiếm gặp của phòng tổ chức sở. Từ ngày đó đến nay đã ba bốn năm trời, không ai thấy hắn có bài thơ, tạp bút nào đăng báo nữa. Hắn lặn mất tăm trong mắt giới văn nghệ tỉnh nhà.

Ngày kia, một đàn anh làm ở hội văn học nghệ thuật có chuyến công tác miền núi, gặp hắn phụ vợ bày hàng khô ra chợ bán lúc sương sớm còn giăng giăng thung núi phía xa. Đàn anh thay mặt hội rủ hắn, một cựu hội viên, qua bên kia đường uống cà phê. Hắn sang, ẵm nách theo thằng con chừng hai tuổi, tóc lơ thơ vài cọng, mũi dãi lòng thòng. Ngó qua bên kia chợ, thấy vợ hắn ngồi vắt chân trên sạp hàng, miệng mời chào lảnh lói, mặt xinh đanh đá.

Coi như xong. Hắn viết văn làm thơ gì nổi nữa! Hắn đứng trên bục giảng có còn thấy mắt – đàn – em – long – lanh?

Nguồn: Tuổi Trẻ Online/văn học

Advertisements

11.12.2010 Posted by | Văn học - Nghệ thuật | , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Mẹ A

Nhìn mâm cơm đạm bạc được dọn bên hiên nhà rộn ràng tiếng cười nói trong trẻo của đám học trò, cứ có cảm giác đó là một mái ấm gia đình. Thật ra đó là nhà cô giáo A và những cô cậu học trò vùng lũ của mình. Đã 20 năm rồi cô vẫn một thân một mình gắn bó với học trò nghèo rốn lũ miền hạ lưu sông Côn ở Tuy Phước, Bình Định.

Những ngày lũ cô giữ các em lại nhà và kèm cặp thêm – Ảnh: B.Trung

Cách đầm Thị Nại một đoạn là nhà cô giáo Lê Thị A ở thôn Lạc Điền, xã Phước Thắng, huyện Tuy Phước, Bình Định. Đây là vùng trũng nhất của rốn lũ miền Trung. Lũ lụt năm nào cũng vậy, có khi hai, ba tháng ròng học trò xứ này phải dầm trong lũ lụt đến trường. “Dép đeo trên cổ nhiều hơn mang chân, người ta bảo quê tui “chín áo một quần” là vậy. Chín cái áo rách rồi mà cái quần vẫn còn mới vì quấn cổ lội nước quanh năm làm sao cũ” – múc cơm canh chia cho học trò tranh nhau tíu tít, cô giáo A khôi hài giải thích.

Nuôi dạy học trò như con

Căn nhà của cô dựng lên hơn 20 năm nay đã xiêu vẹo, là nơi tá túc mùa lũ của học trò nghèo chừng ấy năm. Trận lũ mấy hôm rồi cũng vậy. Chiều, vừa dạy xong mưa to, lũ thượng nguồn sông Côn ầm ầm đổ về, nước tràn ngập sân trường. Học trò lớp 4A của cô 32 em hầu hết ở xa, em nào có cha mẹ chèo ghe đến đón thì về, còn lại đứa sau nắm tay đứa trước bì bõm lội theo cô về nhà.

“Lũ lụt năm nào cũng vậy, có khi hai, ba tháng ròng học trò xứ này phải dầm trong lũ lụt đến trường. “Dép đeo trên cổ nhiều hơn mang chân, người ta bảo quê tui “chín áo một quần” là vậy”

“Nhiều học trò ở xa lắm, cách trường mấy cây số, tít tắp tận cuối đê ven đầm Thị Nại, mà đê ngập nước, thả các em về là lũ cuốn, mình không giữ, không nuôi thì làm sao” – cô A nói. Vậy là những ngày lũ, một mình cô lo hết, cơm ăn nước uống và dạy kèm luôn tại nhà.

Bao nhiêu thế hệ học trò ven đầm Thị Nại đã lớn lên trong căn nhà nhỏ của cô, nhiều em đã học xong đại học, làm ăn xa lâu lâu vẫn ghé về thăm mẹ A. Các em gọi cô là mẹ, lứa học trò nào cũng vậy. Phụ huynh thương cô, có người cậy nhờ gửi luôn cả mùa lũ, có người đi làm ăn xa cũng giao cho cô coi ngó, dạy dỗ. “Không chỉ giúp học trò mùa lũ, cô A luôn là người tình nguyện dạy bồi dưỡng học sinh giỏi của trường, dạy suốt thôi, 20 năm qua như thế và cũng không bao giờ nhận tiền bồi dưỡng” – hiệu trưởng Trường tiểu học Phước Thắng Cáp Văn Nhân nói.

Nuôi dạy học trò mùa lũ ở nhà cũng vậy, cô chắt chiu đồng lương của mình nuôi các em. “Cũng không có gì đâu, tui sống tằn tiện, đạm bạc quen rồi, không giúp các em thì tui giữ tiền để làm gì, lương bổng của mình vài triệu thôi, cố giữ cũng chẳng giàu có được” – cô phân trần.

Lớp 4A của cô chủ nhiệm hầu hết là học trò nghèo. “Quê tui nghèo quanh năm nhưng học trò hiếu học lắm. Có những em chưa bao giờ có bộ quần áo mới. Đứa em mặc đồ đứa anh lớn nhường lại, rách thì vá, cứ vậy, rồi dép mũ cũng thế nhưng chịu khó lắm, học siêng lắm, đi mò cua cũng mang vở ra tận chân đê, đi trông vịt cho ba mẹ cũng mang vở học bên mành vịt ven đầm, vậy mà giỏi lắm” – cô cười rạng rỡ.

Em Nguyễn Hoàng Sơn bị hen suyễn từ bé, có hôm đang học lên cơn hen nằm lăn ra bàn, cô phải lo. Em Phan Phong Nhã ở với bà ngoại già yếu, có hôm nhịn đói đi học, ngất, cô tất tả chạy mua hộp sữa. Lớp 4, tuổi mới lên 10, hay đau ốm vặt, “vậy mà trời thương rồi nó cũng qua, ở nhà cô nuôi cơm canh, mắm muối đạm bạc vài tuần đứa nào cũng phổng phao, có da có thịt” – bà con hàng xóm kể. Thương cô giáo nghèo đùm bọc học trò, có người đi làm đồng nhặt được dăm trứng vịt đẻ non, kiếm được con cá, con ốc, mớ rau, đi ngang thỉnh thoảng ghé lại gửi bớt cho mẹ A nuôi học trò nghèo.

Quên tình riêng

20 năm trước, học xong cao đẳng sư phạm ra trường cô xin về dạy tiểu học gần nhà. Cô kể mình cũng nghèo khó, cố công ăn học trở thành cô giáo là may mắn rồi, bây giờ chịu khó bám trụ ở đây lo cho học trò nghèo là hạnh phúc lắm. Cũng có một vài mối tình đến với cô rồi đi, cô cam chịu, an phận.

“Hồi trước có người ngỏ ý rồi, nhưng tui làm sao bỏ mẹ già đi theo chồng, mà ở lại đây thì người ta không muốn, quê nghèo quanh năm lũ lụt, khó níu giữ chân khách. Vậy rồi thôi, cũng vài mối tình, cũng dăm ba lần thề non hẹn biển rồi dở dang, thôi thì ở vậy, mình không làm mẹ vài đứa thì làm mẹ vài chục đứa luôn” – mẹ A nói đùa mà giàn giụa nước mắt trên gò má hằn dấu chân chim.

Lâu lâu viết thư gửi bạn bè đây đó ở thành phố cô kể: “Nói thiệt là thăm hỏi chỉ một phần, quan trọng là hỏi xin. Xin đủ thứ, xin quần áo cũ cho học trò, xin giấy vở, sách truyện. Có nhiều nhà bạn bè dư thừa quần áo không dùng nữa nhưng còn khá mới mình xin về, rã ra cắt may lại cho các em, nhìn tụi nó mặc bộ quần áo mình sửa sang lại thấy vui lắm, sướng hơn là mình mặc”.

Học trò vùng lũ quần áo đã ít ỏi mà lúc nào cũng ẩm ướt, mau rách lắm, cha mẹ các em ở quanh đầm Thị Nại đều nghèo, quanh năm lặn ngụp trên đồng, lo cái ăn cho chúng đã chật vật, lấy đâu ra quần áo, dép mũ. Cô nói có hôm nhìn nhiều em mặc bộ quần áo vá chằng vá đụp, rách rưới, cô nghẹn đắng. Lũ học trò ngơ ngác hỏi “Sao khóc vậy cô?”. Các em còn ngây thơ lắm.

Hồi đầu năm gần chục học trò ở các thôn Lạc Điền, Phổ Đồng, An Lợi muốn nghỉ học. Có bữa lên lớp thấy vắng các em, vậy là dạy xong cô tất tả đạp xe tìm đến từng nhà. Nhà nghèo quá, chưa có tiền mua sách giáo khoa, cô lên trường mượn giùm, thiếu vở, bút thì cô mua cho. “Đừng nói tên tụi nó xấu hổ tội nghiệp – cô kể – Lớp có gần chục em chỉ có một bộ quần áo đi học”. Chưa xin ai được, cô mượn trước tiền lương mua vải may cho từng em. Trong gian nhà chật hẹp có một kệ gỗ nhỏ chứa đầy thư học trò cũ.

Cô khoe: “Đó là tài sản lớn nhất, lớp này đến lớp khác lớn lên, ra đi, nhiều em học hành thành đạt, làm việc tận Sài Gòn, vậy mà tết năm nào cũng gửi thư về thăm cô. Quê nghèo cũng không níu giữ chân các em được, chúng nó như bầy chim tung cánh, miễn còn nhớ quê, nhớ cô giáo cũ là nó còn nhớ cội nguồn, tui nghĩ vậy thôi…”.

BẢO TRUNG

Nguồn: Tuổi Trẻ Online

20.11.2010 Posted by | Giáo dục | , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?