taysonquynhon's Blog

Một thời học trò để nhớ về

Đưa ngôn ngữ chat vào từ điển tiếng Việt!

LTS: Đó là một gợi ý của GS.TS Nguyễn Đức Dân, nhân câu chuyện ban biên tập của bộ từ điển tiếng Anh danh tiếng Oxford vừa thông báo đã bổ sung thêm một số từ vựng của ngôn ngữ thời @. Chúng tôi trân trọng giới thiệu và mong muốn nhận được những trao đổi khác của các chuyên gia ngôn ngữ học và bạn đọc xung quanh câu chuyện thú vị này.

Internet đã sinh ra một môi trường giao tiếp mới, ngữ cảnh mới và tất nhiên những từ vựng mới cho riêng nó. Ảnh: Bích Ngọc

Trong thời đại hiện nay, hầu hết những người dùng máy vi tính không ít thì nhiều, đều đã từng “chat” – chuyện trò thân mật – trên bàn phím. Động từ tiếng Anh này có từ thế kỷ 15.

Ngôn ngữ chat có những đặc điểm gì? Điều này phụ thuộc vào ba yếu tố chủ yếu: nhu cầu về tốc độ chat, quan hệ giữa những người chat, mục đích và những nội dung đề cập.

Nhu cầu về tốc độ

Nói thì nhanh nhưng viết thì chậm. Nhu cầu thông tin nhanh trong khi chat dẫn tới hiện tượng rút gọn cả về ngữ pháp lẫn từ vựng. Rút gọn càng nhiều càng tốt miễn sao người giao tiếp hiểu được thông tin truyền đi. Nhằm thông tin nhanh, đã xuất hiện những từ tắt chính quy và không chính quy. Trong những văn bản chat và tin nhắn tiếng Anh gặp rất nhiều hiện tượng rút gọn thành những từ tắt (acronym), nhiều từ xuất hiện trước kỷ nguyên internet.

Một số hiện tượng rút gọn được dùng trên mạng theo ngôn ngữ theo ý tưởng QWERTY (những chữ đầu tiên trên bàn phím vi tính) là ngôn ngữ hoà kết (blendings): ebook (→ electronic + book); 2moro (→ tomorrow); 2nite (→ tonight); B4 (→ before); B2B (→ Business to Business), B2C (→ Business to Customer)…

– Rút gọn ngữ pháp: ASL? (→ what is your age, sex, location? – bạn bao nhiêu tuổi, giới tính, ở đâu?) Mar…d or sing? (→ Are you married or single? – Bạn có gia đình chưa?)

– Chỉ dùng các chữ đầu: OMG (→ Oh My God – Chúa ơi!); tbh (→ To be honest: Thành thật mà nói); ntn (→ như thế nào), sn (→ sinh nhật), a (→ anh); e (→ em); ty (→ tình yêu). Ví dụ: “Hum ni là sn of e và là ngày kỷ niệm 4 ty of chúng mình. A còn nhớ không a?” (Hôm nay là sinh nhật của em và là ngày kỷ niệm cho tình yêu của chúng mình. Anh còn nhớ không anh?)

– Lược bớt con chữ: bi g (bây giờ); ko (không)…

– Dùng số thay chữ: 8 (tám); 4 (four, đôi khi for); 0 (không)… Ví dụ: “Mấy pà 8 zì mà 8 hoài thía? 4 tui 8 với coi nè” (Mấy bà tám gì mà tám hoài thế? Cho tôi tám với coi nè).

– Dùng ký hiệu: ~ (những ); # (khác). Ví dụ: “Em mún có ~ kái # mới cơ” (Em muốn có những cái khác mới cơ).

Quan hệ giữa những người chat

Mối quan hệ giữa những người chat dẫn tới đặc điểm văn hoá của ngôn ngữ chat. Khi những người quen biết có quan hệ bạn bè, gia đình, thầy trò, đồng nghiệp, bạn hàng… chat với nhau, khi người viết blog có vị trí xác định trong xã hội thì ngôn ngữ chat được dùng đúng những chuẩn mực văn hoá – xã hội như yêu cầu của cuộc nói chuyện trực tiếp bằng lời. Nhưng trong những cuộc chat mà phần lớn những người chat dùng nickname – biệt danh – và không biết nhau thì đây là những giao tiếp không cần có không gian văn hoá về tôn ti, thứ bậc tuổi tác, vị trí xã hội, nhu cầu lịch sự, giữ thể diện… Lúc đó khả năng xuất hiện thứ ngôn ngữ vô văn hoá rất cao. Người chat sẵn sàng nói xấu nhau, tung tin thất thiệt, xưng hô bừa bãi, chỉ cần hơi trái ý là nặng lời thoá mạ, mắng chửi nhau, nói năng tục tĩu… gây ra những văn bản chat, những trang blog xấu xa. Xã hội dị ứng với loại ngôn ngữ chat này.

Mục đích và những nội dung được đề cập

Những cuộc chat của giới trẻ 8X, 9X nhằm nói theo cách vui nhộn những thông tin riêng tư đồng thời muốn khẳng định mình, sẽ dẫn tới thứ ngôn ngữ chat lạ hoá tiếng Việt, mà xã hội đặc biệt quan tâm và lo lắng chúng làm biến dị tiếng Việt.

Lạ hoá tiếng Việt bình thường theo cách: a) dùng xen tiếng nước ngoài; b) dùng phương ngữ tuỳ tiện; c) dùng những ký tự lạ, biến đổi tuỳ tiện con chữ; d) thay đổi, rút gọn tuỳ tiện âm đầu, thanh điệu, nguyên âm, âm cuối trong một vần. Như: “Pùn nhủ mún chít mà zẫn fải học” (Buồn ngủ muốn chết mà vẫn phải học); “Tua^n` naizz` hum~ koa’ gi` dang’ ke^~… hum~ lum` dc gi` hit” (Tuần này hổng có gì đáng kể… hổng làm được gì hết)…

Vui nhộn theo cách nói vần như đọc vè và tạo ra những từ khó hiểu, hoặc vô nghĩa: “ngu như cái xe… lu”, “xinh như con tinh tinh”, “nhí nhảnh như con cá cảnh”…

Lạ hoá theo cách dùng từ ngữ 3T (Ta – Tàu – Tây) lẫn lộn: “Say rượu rồi lại Livơphun (Liverpool) ra đấy hả?” (Say rượu rồi lại phun ra đấy hả?); “Còn nói nữa à, hôm nay tao “phiu chờ” (future) mày “đầu lâu” quá nên đi học vội vội vàng vàng, bị liptông (Lipton) một phát vẫn chưa hết cay “chim cú” đây này” (Hôm nay tao chờ mày lâu quá nên đi học vội vội vàng vàng, bị tông một phát vẫn chưa hết cay cú đây này).

Với những thông tin riêng tư cần giữ bí mật đặc biệt, trước hết với bố mẹ, người chat phải dùng tiếng lóng. Nếu là tiếng lóng dùng trong một nhóm xã hội như thế hệ 8X hoặc 9X thì vẫn có “mật mã” của nó. Thứ tiếng lóng riêng cho hai người thì không có quy luật, và dẫn tới những quái dị ngôn từ, rất khó phát hiện nội dung.

Có những từ ngữ chat nghiêm chỉnh không chỉ tồn tại trong thế giới online mà đang thâm nhập cả vào đời sống hàng ngày, được nhiều người chấp nhận. Xã hội cũng đã dần “thích nghi” với chúng. Ý thức được điều này, có không ít những từ viết tắt, tiếng lóng được dùng phổ biến trong các dịch vụ chat hay tin nhắn đã chính thức có mặt trong Từ điển OED (Oxford English Dictionary). Tiếng Việt không là ngoại lệ. Chỉ cần hai luận án tiến sĩ về đề tài này – ngôn ngữ chat và tiếng lóng – chúng ta có thể xác định được những từ ngữ chat thông dụng cần được coi là những đơn vị của tiếng Việt hiện nay và tương lai, để chính thức đưa vào từ điển tiếng Việt.

GS.TS NGUYỄN ĐỨC DÂN

Nguồn: http://sgtt.vn/Khoa-giao/143062/Dua-ngon-ngu-chat-vao-tu-dien-tieng-Viet.html

Advertisements

14.04.2011 Posted by | Tin tức - sự kiện | , , | %(count) bình luận

Đúng, sai: ranh giới mong manh

Câu sai được chia thành nhiều loại: sai chính tả, sai từ ngữ, sai ngữ pháp, sai lôgích, sai phong cách… Nhưng có những câu không thể phân định đúng sai bằng những chuẩn mực đơn giản như chính tả, ngữ pháp!

Minh hoạ: Hồng Nguyên

Sai với người này, đúng với người khác

Có câu, người này cho là sai nhưng người khác lại thấy đúng. Câu “Với đồng lương hưu không đủ sống, từ những năm 1987, anh đã viết hàng chục lá đơn…” (NB&CL, 9.10.1993) đã bị T. Nh. phê là chỉ có một năm 1987, sao lại dùng từ “những”? Và NB&CL đã cám ơn. Ấy thế nhưng trong tiếng Việt từ “những” còn được dùng với ý nghĩa nhiều: “Tôi cao những 1,8m”, “Ông ấy có những ba biệt thự”. Khi người bố hỏi “Tối qua con đi những đâu?”, người con có thể đáp vào từ “những”: “Có đâu mà những! Con chỉ sang ôn bài ở nhà Bé Ba”. Vậy nếu người viết muốn nói từ nhiều năm rồi, từ những năm 1987, thì câu trên đâu có sai?

Không sai nhưng trái ý người viết

Trên tuần báo P có bài Người Hà Nội mù chữ. Bài này chỉ nêu lên hiện tượng có một số người Hà Nội mù chữ, thế mà lại viết “người Hà Nội”. Viết vậy hoá ra mọi người Hà Nội đều mù chữ. Đầu đề này mang định hướng chê người Hà Nội, ngược với ý tác giả bài phóng sự. Bây giờ chúng ta thử đổi thành: “Người Hà Nội cũng mù chữ?” Do dùng kiểu hỏi, đầu đề này thể hiện được sự ngạc nhiên chứ không còn là lời chê nữa. Từ “cũng” trong câu hỏi này tạo nên ý sau: người vùng nào mù chữ còn hiểu được chứ “người Hà Nội mà cũng mù chữ” thì không thể tin được. Kết quả là trong thâm tâm có ý đánh giá cao dân trí Hà Nội.

Khen cái này lại phủ định cái kia

Có bài viết “Khác với Dế mèn phiêu lưu ký, truyện ngắn Vợ chồng A Phủ là một tác phẩm đã đem lại nhiều tiếng vang lớn cho nhà văn Tô Hoài”. Câu trên ca ngợi truyện Vợ chồng A Phủ nhưng vô tình hạ thấp Dế mèn phiêu lưu ký. Thế là khen cái này, nếu vô ý về câu chữ có thể dẫn tới chê cái kia. Cụm từ “khác với” mở đầu trạng ngữ của câu đã tạo ra hàm ý không mong muốn đó. Chỉ cần thay “khác với” bằng “giống như”, chúng ta sẽ được một câu ca ngợi cả hai tác phẩm: “Giống như Dế mèn phiêu lưu ký, truyện ngắn Vợ chồng A Phủ cũng là một tác phẩm đã đem lại nhiều tiếng vang lớn cho nhà văn Tô Hoài”.

Một ví dụ khác: trên báo H., có người viết về tình cảm của nhà thơ Trần Đăng Khoa với Xuân Diệu như sau: “Hồi nhỏ, Trần Đăng Khoa rất kính trọng nhà thơ Xuân Diệu”. Đọc dòng trên độc giả sẽ hỏi: hồi nhỏ là vậy, còn hiện nay thì sao? Đã khẳng định “hồi nhỏ rất kính trọng” thì hiện nay không thể là “rất kính trọng” được nữa vì nếu trước sau vẫn luôn luôn rất kính trọng thì cần gì tới trạng ngữ “hồi nhỏ”? Ca ngợi như vậy bằng mười phụ nhau!

Cách dùng trạng ngữ như vậy sẽ tạo ra những câu có hàm ý. Những câu sau cũng gây ra những hiểu lầm tai hại cho dù người viết có thể không ngụ ý gì: “Hồi trước, ông ấy liêm khiết lắm”, “Nó đã từng là người tử tế”…

Không sai nhưng không thích hợp tình huống

Nói năng trong giao tiếp bạn bè khác giao tiếp trước công chúng. Trò chuyện trên bàn ăn khác giao tiếp nghi lễ chính thống.

Có những quốc gia quy định về ngôn ngữ văn hoá trong những môi trường nhất định. Tại Quốc hội Israel, một quy định về “đạo đức lời nói” hiệu lực từ 21.6.2001, theo đó có một danh sách các từ mà các ông nghị không được dùng trong Quốc hội: “kẻ phản bội”, “tên thất học”, “tên độc ác”, “kẻ giả dối”, “phátxít”, “tên khủng bố”, “chính phủ của những kẻ giết người”… (TT, 23.6.2001).

Ngoài đường phố, trong quán càphê, khi “tám” với bạn bè có thể dùng ngôn ngữ đường phố, dùng tiếng lóng, nhưng trong nghị trường thì không thể nói: “Tôi đồng ý xử nghiêm. […] Nghiêm ở đây không có nghĩa sai là “chặt chém” ngay, như vậy thì hết người, không có người để làm” (TT, 13.6.2010).

Thay đổi, thêm bớt một từ, một dấu có thể làm nội dung câu khác hẳn đi. Câu đúng đấy nhưng vẫn có thể… sai.

GS.TS Nguyễn Đức Dân

Nguồn: Sài Gòn Tiếp Thị Online

24.11.2010 Posted by | Bài viết | , | 3 phản hồi