taysonquynhon's Blog

Một thời học trò để nhớ về

Đừng dạy học sinh “nói dối” nữa

TTO – Viết về nhân vật A phải “cao cả”, tả về cô giáo nhất định phải dáng thon, tóc dài…Học sinh không dám đánh cược cảm xúc thật sự với điểm số trong kì thi quan trọng.

Kì thi THPT quốc gia 2015 tiếp tục cho ra đời nhiều bài văn lạ của học sinh.

Nhiều người bật cười vì lời văn ngô nghê, hoặc thở dài trước những câu văn công nghiệp, rập khuôn, mười bài như một. Bên cạnh đó là cách thể hiện cảm xúc của học sinh trong những câu nghị luận xã hội na ná nhau, không có chính kiến và tính phản biện.

Nhiều ý kiến đề nghị: “Đừng biến môn Văn thành môn tập chép. văn mẫu làm học sinh nói dối, khiến các em “tự nhiên” với những lời “nói dối” trong tương lai”.

Cảm xúc đánh cược với điểm số, ai dám?

“Nhiều khi cũng muốn viết theo những gì bản thân nghĩ nhưng mà viết kiểu đó thì điểm không cao nên thành ra phải viết theo dàn ý có sẵn. Nhất là đi thi tốt nghiệp, nhỡ viết sai so với đáp án bị điểm liệt thì ai chịu trách nhiệm?”, bạn Ngọc Hân (17 tuổi, Nha Trang) nói.

Phụ huynh Thu Hương kể: Con tôi học lớp 12, cô giáo môn văn bắt buộc trong bài luận phải mang ý tưởng của cô thì mới có điểm, con tôi  phát biểu “văn là cảm xúc mà cô” liền bị cho điểm 3 không thương tiếc (dù cháu là học sinh giỏi văn 11 năm).

Bạn Bảo Bình (Đồng Nai) chia sẻ một câu chuyện mà bạn nhớ mãi về môn văn lớp 7 của mình: Cô giáo ra đề: “Theo em, điều gì là quý giá nhất trong cuộc sống, hãy chứng minh”. Sau đó cô hỏi ý kiến cả lớp, nhiều ý kiến đưa ra như sức khỏe, lúa gạo, tiền bạc, hạnh phúc, tự do…Nhưng cuối cùng cô giáo chốt lại “theo cô, sức lao động là quý nhất”. Sau đó cả lớp 42 học sinh đều làm bài “sức lao động là quý nhất” theo ý cô giáo.

Thầy Nguyễn Thanh Huy, dạy văn tại trường THPT Bùi Thị Xuân (TP.HCM), cho rằng trước áp lực thi cử phải có điểm số, nhất là kì thi quan trọng như tốt nghiệp, không học sinh nào dám đem những xúc cảm cá nhân thật sự vào bài thi nếu điều đó làm ảnh hưởng đến điểm số của mình.

“Đối với những bài viết trong lớp, học sinh có thể sáng tạo thoải mái, nhưng trước những kì thi quan trọng, giáo viên đều phải hướng dẫn học sinh những cách thức cơ bản nhất để bài làm đúng đáp án và đạt được điểm số cao”, thầy Huy chia sẻ.

Học văn hay học photocopy?

Nhiều học sinh thừa nhận, sau 12 năm học, đa số các em được học theo văn mẫu là chính.

Thầy Nguyễn Thanh Huy cho rằng thực trạng học sinh dần xa lánh, đôi khi sợ hãi môn văn xuất phát từ việc các em không được bày tỏ cảm xúc thật sự của mình. Việc phải thể hiện quan điểm theo cách nhìn có sẵn làm cho các em chán ngán, từ đó biến mình thành những cỗ máy tập chép và photo cảm xúc cho an toàn.

Cô Hồ Khánh Vân, giảng viên ngành Văn học ngôn ngữ Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM, cho rằng, lỗi một phần thuộc về giáo viên và học sinh.

Nhiều giáo viên dạy văn vẫn theo tư duy mình được học phổ thông đem dạy lại cho học sinh, đi theo lối mòn và lười sáng tạo.Thậm chí nhiều đồng nghiệp của cô Vân cũng ít cho học sinh bày tỏ quan điểm riêng mà vẫn chủ yếu theo ý kiến có sẵn trong sách hướng dẫn và giáo viên xem đó là căn cứ đánh giá, chấm điểm.

Học sinh cũng theo đó mà thụ động, không tư duy, ít chịu bày tỏ ý kiến của mình về tác phẩm hay vấn đề xã hội mà phần nhiều chọn cách làm theo hướng dẫn của thầy cô để hoàn thành bổn phận.

Cô Hồ Khánh Vân đánh giá hệ thống giáo dục đang gặp nhiều vấn đề nhưng chưa có những giải pháp triệt để.

Chương trình giảng dạy còn nặng nề, giáo viên và học sinh phải tải mấy chục tác phẩm trong một năm với thời lượng ít ỏi, không đủ để các em tìm hiểu và yêu thích tác phẩm.

Học sinh ít có sự lựa chọn tác phẩm văn học mình yêu thích để phân tích và tìm hiểu mà phải theo những tác phẩm có sẵn trong sách giáo khoa.

Cô Khánh Vân cho rằng trong những năm qua dù cách ra đề và chấm thi đã có nhiều thay đổi nhưng vẫn chưa triệt để và đạt được những hiệu quả như mong muốn. Mọi thứ vẫn còn đang lẩn quẩn trong chuyện đọc – chép và cách tư duy sáo mòn của việc cảm thụ môn văn.

Sĩ tử Nghệ An ra về sau khi làm xong phần thi môn văn tại điểm thi Trường ĐH Vinh, Nghệ An - Ảnh: Doãn Hòa
Sĩ tử Nghệ An ra về sau khi làm xong phần thi môn văn tại điểm thi Trường ĐH Vinh, Nghệ An – Ảnh: Doãn Hòa

Tương lai nào cho môn văn?

Một cô giáo dạy văn hơn 20 năm (giấu tên) chia sẻ rằng những năm qua, đề thi có đổi mới theo hướng mở nhưng cách chấm vẫn theo những barem gợi ý có sẵn, thậm chí với cả nghị luận xã hội.

Học sinh không thể nào làm khác đi. Có thể các em có những suy nghĩ khác nhưng cuối cùng vẫn chọn phương án an toàn.

Bản thân giáo viên, đôi khi rất muốn hướng học sinh tư duy sáng tạo, nhưng họ không thể vượt ra khuôn khổ. “Mình dạy học trò làm khác đi, đến khi thi, các em bị điểm thấp thì giáo viên làm sao gánh trách nhiệm”, cô giáo này chia sẻ

Thầy Nguyễn Thanh Huy đề xuất hãy để cho giáo viên và học sinh được tự do lựa chọn tác phẩm văn học yêu thích và cùng tìm hiểu về nó. Bộ GDĐT chỉ cần ra định hướng, phân chia từng mốc thời gian trong năm giáo viên sẽ giảng dạy những đề tài nào (ví dụ văn học lãng mạn, yêu nước…), việc còn lại hãy để giáo viên và học sinh thoải mái trong việc bày tỏ cảm xúc, nhìn nhận, đánh giá tác phẩm.

PGS.TS Đoàn Lê Giang, trưởng khoa Văn học ngôn ngữ Trường ĐH KHXH&NV TP.HCM, cho biết những đổi mới trong giáo dục đối với môn văn chủ yếu là bồi dưỡng khả năng ngữ văn sẵn có của học sinh và thứ hai là đào tạo nhân cách.

Chúng ta đang hướng cho học sinh thể hiện tư duy văn chương theo cảm nhận có chiều sâu và sáng tạo, khuyến khích tính trung thực trong nhìn nhận và đánh giá vấn đề.

Tuy nhiên qua quá trình chấm thi tốt nghiệp PTTH vừa qua, PGS.TS Đoàn Lê Giang vẫn nhìn nhận, thực trạng chưa được cải thiện nhiều.

Học trò là sản phẩm của giáo dục, của nhà trường, thế nên trách nhiệm phải thuộc về giáo dục, giáo viên, những người làm công tác quản lý.

Ông Giang nhấn mạnh hệ thống giáo dục Việt Nam cần phải thay đổi toàn diện và sâu sắc hơn nữa, cần những đổi mới mang tính thực chất để thay đổi thật sự chất lượng giáo dục.

Và riêng với môn văn, phải làm sao để các em yêu văn và cảm nhận văn học sâu sắc, tự nguyện chứ không phải thái độ học đối phó và sợ môn Văn như hiện nay.

Nguồn: http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/tieu-diem/20150728/dung-day-hoc-sinh-noi-doi-nua/783933.html

28.07.2015 Posted by | Bài viết, Giáo dục | , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Giáo dục cần bắt đầu từ những điều cụ thể

Tác giả:  Giáp Văn Dương
Giáo dục cần bắt đầu từ những điều cụ thể

1.Giáo dục con trẻ nên bắt đầu như thế nào, cụ thể hay trừu tượng, là một trong những câu hỏi thời sự của người làm giáo dục. Không phải chỉ bây giờ các nhà giáo, các bậc phụ huynh mới quan tâm đến chuyện này, mà ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, câu chuyện này đã được đưa ra bàn bạc và tranh luận. Vì sao vậy? Vì chuyện này liên quan đến một câu hỏi cốt lõi khác: Con người nhận thức như thế nào? Và làm sao cho quá trình học tập được hiệu quả nhất?

Ở Hy Lạp cổ đại, trước Aristotle, xu hướng cho rằng phương thức tư duy chủ yếu là diễn dịch, tức là đi từ trừu tượng đến cụ thể, là chủ đạo.Tương ứng với nó, giáo dục sẽ dạy các nguyên tắc hay khái niệm trừu tượng trước, sau đó áp dụng vào từng trường hợp riêng biệt.Điển hình cho trào lưu này là Plato, với luận thuyết nổi tiếng về dạng thức (forms).

Tuy nhiên, với sự phát hiện ra logic và quy nạp, Aristotle đã khởi đầu một giai đoạn mới của tư duy, và do đó của giáo dục.Đó là cách tư duy từ cụ thể đến trừu tượng.Tức là bắt đầu từ các hiện tượng riêng lẻ cụ thể mà khái quát lên thành nguyên tắc, định luật.Bằng cách này, Aristotle đã đặt nền móng cho khoa học ra đời, vì cách vận hành của khoa học chủ yếu dựa trên tư duy quy nạp này.Cũng vì lẽ đó, Aristotle đã trở thành nhà bác học bách khoa toàn thư đến cả nghìn năm.

Cùng thời gian này, ở phương Đông, chủ yếu là ở Trung Quốc và sau đó ảnh hưởng các nước lân cận, trong đó có Việt Nam, câu chuyện về nhận thức cũng diễn ra tương tự, tức là vẫn đi từ trừu tượng đến cụ thể, với các luận thuyết về Âm Dương, Ngũ Hành, Dịch học…. Sau này, ngoài các lý thuyết nêu trên, thì sự học ở phương Đông gắn liền với Nho giáo mà trọng tâm là các nguyên tắc ứng xử trong xã hội.Những nguyên tắc này được coi như thiên lý, chỉ việc học thuộc, tuân thủ và ứng dụng vào các hoàn cảnh cụ thể mà không cần bàn xét đúng sai.Tư duy diễn dịch, đi từ trừu tượng đến cụ thể đóng vai trò chủ đạo ở phương Đông.Có lẽ cũng vì thế, mà khoa học đã không ra đời, và rất khó phát triển, ở xứ này.

Nhắc lại như vậy để thấy, việc giáo dục trẻ theo cách nào, từ cụ thể đến trừu tượng hay ngược lại, có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển và thành công của trẻ sau này.

2.Ở ta, từ bé các em đã được dạy “ Vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng”. Nhưng Tổ quốc là gì vẫn còn là một khái niệm gây tranh cãi. Xã hội chủ nghĩa là gì vẫn là một phạm trù chưa thống nhất. Chưa ai hình dung được rõ ràng những nội dung của khái niệm chủ nghĩa xã hội. Mà có hình dung được thì cũng không thống nhất. Mà có thống nhất lại cũng luôn thay đổi. Các học giả đầu bạc, các chính trị gia lão luyện, không ai có thể nói một cách rõ ràng xem xã hội chủ nghĩa là gì.

Vậy thì những nội dung này phải nói là hoàn toàn xa lạ và quá sức hiểu biết của các em. Vậy mà các em phải ngày ngày hô lên sẵn sàng cam kết thực hiện gần như hàng ngày.

Nói như vậy để thấy, ngay trong một câu khẩu hiệu mà hàng triệu học sinh tiểu học phải hô hàng ngày, phải cam kết sẵn sàng, thì nội dung của nó vẫn rất mù mờ, cả trên thực tế lẫn lý thuyết.

Bắt các em cam kết với điều mình chưa hiểu là một sự vô lý. Vô lý thì không thể nào là sư phạm được.

Có những điều nếu như trước đây tôi coi là chân lý hiển nhiên, thì nay, trước những câu hỏi của cô con gái nhỏ, tôi bắt đầu bối rối. Các em được dạy những điều quá sức hiểu biết của con trẻ. Và càng nghĩ, tôi càng thấy những nội dung này quá sức với cả hầu hết người lớn chúng ta.

“Yêu tổ quốc, yêu đồng bào”, tuy nội dung rất tốt đẹp, nhưng lại quá trừu tượng với các em. Với lứa tuổi thiếu niên nhi đồng thì “tổ quốc” và“đồng bào” là những khái niệm vẫn còn xa lạ. Thế giới của các em mới chỉ là gia đình, thày cô, bè bạn. Vậy tại sao lại không phải là yêu gia đình, yêu cha mẹ anh em, yêu thày cô bè bạn, mà lại là yêu tổ quốc, yêu đồng bào? Việc áp đặt các em phải học những khái niệm trừu tượng như vậy liệu có phải là một sự cưỡng chế, bất chấp những giới hạn về nhận thức và hiểu biết của trẻ nhỏ?

Đến “Lao động tốt, học tập tốt” cũng không rõ ràng và có thể không còn phù hợp trong trường hợp “lao động tốt”. Việc tách thành hai nội dung cụ thể này ngụ ý lao động khác với học tập. Nhưng lao động ở đây là lao động gì? Và lao động tốt là như thế nào? Hoàn toàn không rõ ràng. Liệu lao động có thể hiểu là làm việc để mang lại thu nhập? Nếu đúng như vậy thì rất có thể một phần nội dung của điều này đã vi phạm pháp luật hiện hành, khi luật pháp cấm sử dụng lao động trẻ em dưới 15 tuổi.

Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt” là một điều hay, nhưng trên thực tế cũng rất dễ biến tướng thành phương tiện để kiểm soát sự phát triển cá tính của các em.Ở giai đoạn này, các em nên được ưu tiên tự do phát triển tốt nhất trong khả năng của mình, thay vì gò ép vào các khuôn khổ do người lớn đặt ra. Thực tế cho thấy, con người chỉ có thể đoàn kết nếu chia sẻ các giá trị tinh thần chung, hoặc các lợi ích thiết thực. Đoàn kết là một sự tự nguyện. Nhưng các điều này còn quá xa lại với các em. Nếu bắt các em phải đoàn kết không trên những cơ sở này thì đó là một sự cưỡng bức. Nhiệm vụ chính của các em lúc này là học và chơi, để từ đó phát triển tốt các năng lực của mình, chứ không phải là đoàn kết và kỷ luật theo khuôn mẫu đặt trước.

Rõ ràng phần lớn nội dung các em được dạy tuy tốt về mặt lý thuyết, nhưng hoặc quá sức với các em, hoặc không sư phạm vì ngay cả người lớn cũng không thực hiện được, hoặc không còn phù hợp trong hoàn cảnh mới. Những điều này được soạn ra trong thời chiến tranh từ hơn 50 năm về trước.Nay chiến tranh đã qua gần 40 năm, quan niệm về xã hội, về nhiệm vụ của trẻ nhỏ cũng đã thay đổi. Đặc biệt khoa học giáo dục đã phát triển rất nhiều, đòi hỏi cách nuôi dạy trẻ cũng phải thay đổi theo. Vậy thì tại sao những nội dung này vẫn giữ nguyên hơn 50 chục năm qua mà không điều chỉnh cho phù hợp với thời đại mới?

Đối với nội dung của những điều này, nếu với người lớn còn quá sức và khó mà thực hiện như vậy thì cớ sao lại mang ra bắt trẻ nhỏ phải cam kết thực hiện mỗi ngày?

Trẻ học tốt nhất qua việc nêu gương. Khi người lớn đã không thể thực hiện mà bắt trẻ thực hiện thì việc ép buộc này là phản sư phạm và chắc chắn sẽ phản tác dụng

3.Giáo dục, nhất là với lứa tuổi nhỏ, bao giờ cũng bắt đầu với những điều cụ thể. Đằng này cách giáo dục hiện thời lại bắt đầu bằng những các khái niệm trừu tượng không ai hiểu được như đã nêu trên.Vậy mà kỳ lạ thay, những khẩu hiệu này vẫn được sử dụng hàng ngày hơn 50 năm nay, cho hàng chục triệu các em thiếu nhi rất nhỏ.

Chúng ta thử hình dung xem khi hàng triệu em nhỏ, từ hết thế hệ này sang thế hệ khác, thề sẵn sàng thực hiện những điều mình không hiểu, những khái niệm trừu tượng như trên đã dẫn, thì các em có thể thực hiện được không? Chắc chắn là không. Mà đã không thực hiện thì lời thề không thể có tính cam kết. Không cam kết thì không khả tín. Không khả tín ắt sinh nghi kỵ. Khi đã nghi kỵ thì mầm giả dối bắt đầu trồi lên như nấm sau mưa.Nguồn gốc của sự loạn cũng từ đây mà ra chứ không phải từ chỗ nào khác nữa.

Vậy thì chúng ta ứng xử làm sao với một nghịch lý ngang nhiên như vậy?

Giáo dục cần bắt đầu từ gần đến xa, từ những điều gần gũi, thân thương, giản đơn trước khi đến với những khái niệm trừu tượng.

Với trẻ nhỏ thì điểm tốt nhất để bắt đầu là bắt đầu từ những sự vật, sự việc liên hệ đến chính các em: cơ thể của các em, việc ăn, việc học, việc chơi, bố mẹ, anh em, thầy cô, bè bạn, gia đình, trường lớp; sau đó là đến thế giới của các em, với những cảm xúc yêu thương và đạo đức tự nhiên: yêu cha mẹ, yêu anh chị em, yêu gia đình, yêu thầy cô, yêu bè bạn, và đặc biệt là yêu thương ngay chính bản thân mình.

Rồi tiếp theo những là những tri thức cụ thể, về sự vật sự việc hàng ngày, về môi trường và cuộc sống xung quanh, để rồi sau đó mới khái quát dần lên thành những vấn đề trừu tượng, những giá trị cơ bản của đạo đức và lối sống.

Các nội dung này sẽ có tính kế thừa và mở rộng dần theo lứa tuổi của các em. Nhưng có một nguyên tắc cần giữ là phải bắt đầu từ những điều đơn giản, cụ thể trước khi đặt ra những khái niệm trừu tượng, mơ hồ.

Đây chính là cách giáo dục khoa học, dựa trên sự quy nạp từ cụ thể đến trừu tượng, thay vì bắt ép các em phải chấp nhận một số nguyên tắc hay khái niệm trừu tượng trước mà không được phán xét hoặc thay đổi.

Nếu cách dạy được xây dựng từ cụ thể đến trừu tượng, thì các em sẽ được làm chủ hành trình khám phá tri thức của mình, được quyền sai lầm, được quyền sáng tạo, được quyền dựng xây kho tri thức của mình. Việc học khi đó sẽ rất hào hứng. Còn nếu bắt các em bắt đầu bởi những thứ trừu tượng thì việc học sẽ chỉ đơn thuần là một sự nhồi nhét khổ ải.

Ngoài ra, bên cạnh việc thay đổi cách dạy học như đã nêu trên, mỗi trường học, hay mỗi gia đình, tùy theo mục đích của mình mà định ra các giá trị cốt lõi cho trẻ phấn đấu. Những giá trị đó có thể sẽ rất gần gũi nhưng cơ bản, như: trung thực, bao dung, tôn trọng người khác; hay đơn giản hơn là vươn lên không ngừng.

Khi đó, giáo dục sẽ tránh được tình trạng đồng phục tư duy, khi học sinh cả nước không còn phải rập theo một số tiêu chuẩn cho sẵn. Các em và gia đình được quyền chọn những trường học có giá trị cốt lõi phù hợp với định hướng phát triển và năng lực của chính mình: cá tính, sinh động và sáng tạo.

Chỉ có như thế, trẻ nhỏ mới có được một nhân cách lành mạnh bình thường.Việc học mới không còn là một gánh nặng.Còn nếu không, việc học sẽ là một sự nhồi nhét đọa đầy, giáo dục và do đó cả xã hội, cứ chìm mãi vào một vòng xoáy giả dối bất thường mà lại cứ ngộ nhận là phi thường vậy.
Giáo Văn Dương/Người Đô Thị

27.05.2014 Posted by | Giáo dục, Web hay | , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Không thay đổi cách làm giáo dục, trường học sẽ thành “chợ”

Ảnh ST từ Google

Tác giả: Từ Nguyên Thạch

Cách chia thành trường “điểm”, trường “chất lượng cao”, trường “chuyên” sẽ làm đảo lộn những giá trị giáo dục truyền thống. Trường học sẽ trở thành “chợ” mà ở đó ai có nhiều tiền thì có nhiều quyền lợi.

Với tựa đề “Nghịch lý trường mầm non”, báo Tuổi Trẻ ngày 18-3 nhận định có một nghịch lý đang diễn ra tại các trường mầm non (MN) trên địa bàn TP.HCM từ nhiều năm nay: học sinh con nhà khá giả vẫn nhận được sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, còn học sinh con nhà nghèo phải tự lực cánh sinh.

Báo này dẫn chứng tại quận Gò Vấp, ngôi trường được nhiều phụ huynh tín nhiệm là Trường MN Hồng Nhung – trường đạt chuẩn quốc gia với sân chơi, phòng ốc rộng rãi, thoáng mát, đa số giáo viên đều đạt giáo viên giỏi. Nhưng mỗi tháng phụ huynh Trường Hồng Nhung chỉ phải đóng 800.000 đồng/HS, bao gồm tất cả các khoản: học phí, vệ sinh phí, tiền ăn, tiền bán trú… Trong khi đó, trên cùng địa bàn quận Gò Vấp, một số nhóm trẻ gia đình cũng thu 800.000 đồng/tháng/HS nhưng chất lượng chăm sóc, nuôi dạy thì ngược lại: phòng học chật chội, nóng bức, thiếu đồ dùng, đồ chơi, người chăm sóc trẻ chưa đạt trình độ trung cấp sư phạm MN. Cũng theo bài báo, tình trạng trên không chỉ xảy ra ở quận Gò Vấp mà ở hầu hết các quận, huyện trên địa bàn TP.HCM.

Bài báo đặt câu hỏi “ai sẽ được học ở những ngôi trường lý tưởng như các trường trên?” và trả lời hiện chưa có cơ quan, ban ngành nào làm khảo sát cụ thể, nhưng chỉ cần dạo một vòng vào giờ tan học tại các trường trên cũng thấy không ít phụ huynh đi xe hơi nối đuôi nhau đưa đón con em mình đi học. Trong một buổi làm việc với HĐND TP.HCM, Ths Nguyễn Thị Kim Thanh – trưởng Phòng GD mầm non (Sở GD-ĐT TP.HCM) – cũng nhắc đến vấn đề này: “Phần đông học sinh học ở trường MN đạt chuẩn quốc gia, trường tiên tiến cấp TP đều thuộc diện gia đình khấm khá. Còn HS ở các nhóm trẻ gia đình rất khổ, đa số là con em nhân dân lao động”.

Thật ra, tình trạng “trường tốt dành cho con em nhà giàu, trường xấu cho con em nhà nghèo” đã được nhiều nhà giáo dục chỉ ra cả chục năm nay rồi. Lúc sinh thời, GS Dương Thiệu Tống đã rất nhiều lần chống lại cách làm giáo dục hiện nay nhưng hầu như chẳng quan chức giáo dục nào nghe. Ông phản đối cách chia thành trường “điểm”, trường “chất lượng cao”, trường “chuyên”. Ông nói đó là cách làm nguy hiểm, dẫn tới làm đảo lộn những giá trị giáo dục truyền thống. Trường học sẽ trở thành “chợ” mà ở đó ai có nhiều tiền thì có nhiều quyền lợi. Ông dẫn ra ở Liên Xô (cũ) nhiều trường học của nhà nước trở thành phục vụ cho giới nhà giàu, quan chức cấp cao vì phụ thuộc vào mức mà họ “đóng góp” nhiều hơn. Còn con em nhà nghèo, của giới thợ thuyền đành chấp nhận học ở những trường không được tốt về cơ sở vật chất, phương tiện dạy học.

Cách làm giáo dục như vậy đã phá vỡ mục tiêu công bằng trong giáo dục. Trẻ em, đáng lý được hưởng một chất lượng giáo dục như nhau, thì nay phải chịu sự đối xử bất công của người lớn. Thử hỏi các thế hệ mà về sau sẽ trở thành người chủ tương lai của đất nước nghĩ gì, sẽ đáp lại quá khứ của mình như thế nào, hay sự bất công sẽ tiếp tục bất công?

Nhưng vì sao một cách làm giáo dục… phản giáo dục như vậy vẫn cứ tồn tại, thậm chí liên tục phát triển? Có thể nhận ra vì nó dính tới đặc quyền, đặc lợi của các quan chức trong ngành giáo dục. Trong điều kiện thu nhập còn khiêm tốn, họ quyết duy trì những “giá trị” này để tạo thế “cân bằng” với những ngành khác vốn cũng đầy rẫy đặc quyền, đặc lợi còn nhiều hơn cả ngành giáo dục. Tất nhiên, người lãnh đạo cao hơn của ngành giáo dục, của địa phương quản lý có thấy nhưng không dại gì “chọc vào tổ kiến lửa”. Vả lại, ngay bản thân và con em họ cũng đã hưởng được các đặc quyền, đặc lợi đó rồi. Thay đổi để làm gì?

Cuối cùng, vẫn chỉ con em dân nghèo thua thiệt!

Giáo dục phải được cung cấp đồng đều cho mọi trẻ em, không phân biệt giàu nghèo, thành thị hay nông thôn với giá rẻ nhất có thể hoặc miễn phí. Bởi vì có như vậy mọi trẻ em mới được đến trường một cách bình đẳng. Đó là nền giáo dục của dân, do dân và vì dân.

Nguồn: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=3918

 

05.04.2011 Posted by | Bài viết, Giáo dục | | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Dân “dị ứng” với cải cách giáo dục

PN – Lại một lần nữa, vấn đề cải cách giáo dục phổ thông (GDPT) đã được hầu hết đại biểu tán thành trong Hội thảo GDPT trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện, tổ chức ngày 29/3 tại TP.HCM.

Theo bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước, Chủ tịch Quỹ Hòa bình và phát triển VN, tình trạng yếu kém, bất cập và lạc hậu trong lĩnh vực GD-ĐT đã tới mức nghiêm trọng, cản trở sự phát triển của đất nước, khiến xã hội luôn bức xúc và mong muốn phải đổi mới một cách cơ bản, toàn diện. Hệ thống GD-ĐT nước ta không liên thông giữa các cấp đào tạo. Cả nước có 311 trường ĐH, CĐ, vậy mà chỉ có 292 trường THCN và 262 trường dạy nghề. Từ năm 2001 đến nay, tỷ lệ người mù chữ không giảm, tỷ lệ thanh thiếu niên trong độ tuổi 6-24 được học trong trường chưa đến 64%… Ông Nguyễn Quang Kính, nguyên cán bộ Bộ GD-ĐT nói: Điều gây bức xúc nhất hiện nay là GDPT nước ta vẫn chỉ tập trung vào ứng thí (thi hết cấp, thi vào trường, thi tốt nghiệp), là một nền GD đồng loạt, áp đặt, không coi trọng cá thể, GV thiếu động lực, năng lực, uy tín quản lý tập trung, không minh bạch. Hầu hết những mong muốn đổi mới về nội dung, phương pháp đều ngưng lại trên văn bản.

Một nền giáo dục ứng thí khiến HS “đầu nặng kiến thức
nhưng lại ngơ ngác với cuộc đời”

Chương trình GDPT mới cho sau năm 2015 sẽ được thiết kế ra sao để tránh chắp vá, bất cập cũ, đồng thời đáp ứng được các yêu cầu đổi mới? Các đại biểu đề xuất: phải thực hiện một tổng thể các giải pháp mang tính toàn diện, đồng bộ, căn cơ, khoa học. Theo nhóm nghiên cứu đề tài Xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất chủ trương, chính sách phát triển giáo dục phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu và đầy đủ do bà Nguyễn Thị Bình chủ trì, đối chiếu hoàn cảnh nước ta, về thời lượng học nên rút bớt năm học lại. Ở GDPT cùng với việc tổ chức học hai buổi/ngày có thể chỉ cần 11 năm; trong đó hai cấp tiểu học và THCS được thiết kế theo hướng gắn kết thành phổ thông cơ sở, có chín năm học; cấp THPT được thiết kế theo hướng phân hóa rõ rệt, có hai năm học, tập trung vào định hướng nghề nghiệp và phát triển năng lực cá nhân. Bậc giáo dục cơ sở chín năm bảo đảm đủ chỗ cho mọi trẻ em 6-15 tuổi học theo chế độ miễn phí. Sau đó, hơn 50% HS có thể tiếp tục học ở trường trung học nghề, non nửa còn lại học ở THPT.

Sau năm 2015, HS cả nước lại tiếp tục thay sách. Liệu những đề xuất của các nhà khoa học, quản lý giáo dục hôm nay có “cùng tần số” với Bộ GD-ĐT? Cải cách như thế nào để không lặp lại “vết đổ của lịch sử”, trong khi xã hội đã quá ngán ngẩm với hai chữ “cải cách” thật không dễ trả lời. PGS-TS Trần Kiều, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục VN nói: “Bây giờ nhân dân cứ thấy cải cách là dị ứng. Chúng ta phải hình dung lộ trình, điều kiện của cải cách để cái cuối cùng của cải cách là mang lại ích lợi cho đất nước, cho gia đình và cho cá nhân người học”.

Hồng Liên

Nguồn: http://www.phunuonline.com.vn/2011/Pages/dan-di-ung-voi-cai-cach-giao-duc.aspx

02.04.2011 Posted by | Bài viết, Giáo dục | , , | 4 phản hồi