taysonquynhon's Blog

Một thời học trò để nhớ về

Cha tôi – ông Phan Khôi

Tác giả: Phan Nam Sinh

TTCT – Cha tôi là nhà báo – nhà văn Phan Khôi. Ông sinh ngày 6-10-1887 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn (Quảng Nam) và mất tại Hà Nội ngày 16-1-1959, thọ 72 tuổi.

Nhà báo  - nhà văn Phan Khôi - Ảnh tư liệu

Nhà báo – nhà văn Phan Khôi – Ảnh tư liệu

Hồi đó, phương tiện liên lạc chưa hiện đại như bây giờ nên mãi gần một ngày sau tôi mới nhận được tin. Tôi lẽo đẽo cuốc bộ từ Trường Học sinh miền Nam số 24 ở Hải Phòng, nơi tôi đang theo học, tới Trường Học sinh miền Nam số 6 cách đó hơn một cây số để báo tin cho em gái. Hai anh em tôi leo lên một chiếc xe con màu đen, chẳng biết hiệu gì, chỉ nhớ nó thấp lè tè, nhô ra. Ngồi trên xe, em tôi nghĩ gì không biết, chỉ nghe tiếng thút thít, thỉnh thoảng lại nấc lên. Còn tôi có lẽ vì là con trai và nhiều tuổi hơn, vả lại điều mất mát vừa xảy ra cho gia đình tôi tuy quá lớn nhưng không hẳn là bất ngờ nên tôi chỉ âm thầm chịu đựng và chua xót. Chua xót cho thân phận một con người, cho cuộc đời đầy sóng gió của cha tôi.

Những câu đối dâng cha
Hoạt động báo chí của ông, tôi cũng mới biết qua mấy bài báo ông viết trước cách mạng mà mỗi dịp hè tôi được đọc từ bản chép tay do ông sao lại từ báo chí mượn ở các thư viện lớn của Hà Nội. Đó là các bài:
Dân quạ đìnhcông, Tình già, Một lối Thơ mớitrình chánh giữa làng thơ, Chuyện bà cố tôi,Xóa một cái án trong lịch sử: Thân oan cho Võ Hậu, Đọc cuốn Nho giáo của ông Trần Trọng KimLúc bấy giờ, không hiểu sao mọi suy nghĩ của tôi cứ đổ dồn về cuộc đời hơn bốn mươi năm bôn ba làm báo, viết văn của ông. Thật ra cho tới lúc ấy, tôi chưa biết gì nhiều về đời tư của cha ngoài tính nghiêm khắc mà mẹ và các anh chị tôi thường kể, bởi tuy đã 19 tuổi nhưng tôi chỉ sống với ông chưa đến bốn năm, mà mỗi năm cha con chỉ gặp nhau chừng nửa tháng vào mỗi dịp hè hoặc tết.

Chỉ với chừng ấy thôi, chưa phải nhiều nhặn gì so với hàng ngàn bài báo mà ông đã viết nhưng trong tôi đã hình thành một nhận xét về cha, có vẻ như vượt quá tuổi tác và trình độ học vấn của tôi lúc ấy. Đó là cha tôi tuy xuất thân Nho học nhưng tư tưởng rất mới, điều quan trọng hơn là ông đã dũng cảm đấu tranh với bất kỳ ai, với bất kỳ thế lực nào để bảo vệ lẽ phải và tiến bộ.

Vượt qua đoạn đường dài hơn 100 cây số từ Hải Phòng về Hà Nội, rồi từ bến xe Long Biên về 73 phố Thuốc Bắc, nơi cha tôi trút hơi thở cuối cùng trong căn phòng chưa đầy 10 mét vuông lúc nào cũng thiếu ánh sáng, nước mắt tôi trào ra, không cách gì ngăn được. Câu đối đầu tiên của đời tôi, buồn thay lại là câu đối khóc cha:

Lúc xã hội nhố nhăng, cúi chẳng cúi, luồn chẳng luồn, há chịu phép vú to lấp miệng
Khi văn chương nhập nhoạng, tranh ra tranh, cãi ra cãi, đâu đành lòng mũ nỉ che tai

Hồi ấy, cuộc đấu tranh chống Nhân văn – Giai phẩm mà cha tôi được coi là thủ lĩnh tuy đã hầu tàn nhưng dư chấn của nó vẫn còn rất mạnh, có lẽ chẳng thua gì một trận động đất mà cha tôi phải hứng chịu. Mọi lời nói hay luận bàn về ông trở thành điều cấm kỵ. Vì vậy, tôi tuy rất ưng ý với câu đối viếng ông mà mình vừa làm nhưng chẳng dám hé môi đọc cho ai nghe, kể cả với các anh chị tôi.

Vào ngày Trùng Cửu (9-9 âm lịch) năm Kỷ Mão (1999), tôi được một anh bạn đồng hương gửi tặng cuốn “Bảo An – đất và người” của Nhà xuất bản Đà Nẵng, do tập thể tác giả Phan Nam, Lương Ngọc Châu, Phan Văn Hường, Phan On biên soạn cùng với sự cộng tác của nhiều người là con cháu tộc Phan – Bảo An đang công tác ở mọi miền đất nước. Bên cạnh một số người thuộc hàng em hoặc con ông được vinh danh như các nhà cách mạng Phan Thanh, Phan Bôi, Phan Triêm, nhà báo Phan Thao; cuốn sách cũng đã dành một số trang giới thiệu tiểu sử và văn nghiệp của cha tôi, xem ông là nhà văn, nhà thơ, nhà trí thức lớn của quê hương mình. Đó là điều mà hơn bốn mươi năm về trước những ai từng đọc các bài phê phán ông không thể ngờ tới.

Tôi nhận ra tên tuổi, sự nghiệp cha tôi vẫn sống và sẽ còn ở lại lâu dài với quê hương, sông núi, với họ hàng, con cháu dù đã nhiều năm người ta cố lờ đi như ông chưa từng hiện diện trên đời. Tôi lại nhớ tới câu đối viết hồi ông qua đời và thế là đúng bốn mươi năm sau, tôi lại có thêm một câu đối khác cũng viết về ông. Lần này tôi viết bằng chữ Hán, với tâm trạng vui hơn nhưng vẫn thắc thỏm lo không chắc sẽ được số đông chấp nhận. Câu đối ấy như sau:

Phan công quyến tộc sơn hà tại
Việt quốc chương dân thế đại tồn

Dịch:

Cụ Phan gia quyến lưu sông núi
Non Việt dân văn tục vạn đời

Viết xong, tự tôi thấy còn non nớt, nhưng hai chữ Chương Dân, bút hiệu của cha tôi mà tôi dịch là Dân Văn vào câu đối là hình dung của tôi về ông như một nông phu, ngày đêm cặm cụi trên cánh đồng văn bút mà không chắc đã gặt hái được gì bởi quyền năng đâu phải lúc nào cũng thuộc về ông.

Năm 2011 tôi 71 tuổi, ngấp nghé cái tuổi ông qua đời, tôi lại có thêm một câu đối khác viết về ông. So với hồi năm 1959, lúc này tôi đã hiểu ông nhiều hơn vì không chỉ được đọc sách của người khác viết về ông như Nhớ cha tôi: ông Phan Khôi của Phan Thị Mỹ Khanh – chị gái tôi, Phan Khôi – tiếng Việt, Báo chí và thơ mới của Vu Gia, Quảng Nam – đất nước & nhân vật của Nguyễn Q. Thắng mà còn được đọc hàng ngàn bài báo của chính ông trong công trìnhPhan Khôi – tác phẩm đăngbáo của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân.

Tôi thật sự choáng ngợp và thán phục trước kho tri thức uyên bác, vừa có chiều rộng lại có chiều sâu mà ông sở hữu. Càng khâm phục hơn khi tôi biết kho tri thức đồ sộ ấy là do ông tự học, tự tích lũy gần như cả đời mà có. Tôi lại nhớ tới hai câu 5-6: Đầy bụng báng nhau trăm bộ sách, Còng lưng thồ nặng chín triều vua trong bàithơluật Đường ông viết hồi năm 1957, năm ông 70 tuổi, có tên là Bảy mươi tự thọ mà từ lâu tôi đã thuộc lòng. Thế là câu đối cứ tự nhiên mà ra, chẳng gặp bất cứ khó khăn nào, cứ như có ai đó cầm tay tôi mà viết giúp vậy:

Dẫu tự học, chỉ tự rèn cũng đầy bụng báng nhau trăm bộ sách
Lo dân sinh, vì dân chủ mà còng lưng thồ nặng chính triều vua

Sao lại là chín triều vua? Ngay từ hồi 1957, lần đầu tiên đọc bài thơ này tôi đã lấy làm lạ, tiếc là không dám hỏi thẳng ông. Vì như tôi biết, ông sinh năm 1887, cho tới khi chấm dứt chế độ phong kiến ở Việt Nam, cha tôi từ Quảng Nam ra Hà Nội rồi đi kháng chiến trên chiến khu Việt Bắc cũng chỉ mới qua năm đời vua là Đồng Khánh (1885-1888), Thành Thái (1889-1907), Duy Tân (1907-1916), Khải Định (1916-1925), Bảo Đại (1926-1945). Mãi tới năm 1965, khi làm thư mục cho số sách vở, tài liệu, di cảo của ông để lại, tôi mới thôi không thắc mắc nữa.

Ấy là nhờ tôi đọc bài Những con số không nhất định trongtừ ngữ trong số di cảo của ông viết gần một năm trước khi mất. Trong bài khảo cứu này, ông cho biết số chín trong từ ngữ nào có số chín không nhất định là để chỉ “số rất nhiềutrong các số cơ bản”, như “chín tầng trời, chín nghìn anh em” là để chỉrấtnhiều tầng trời, rấtnhiều anhem. Nó khác hẳn với số chín nhất định như nóithiều quang chín chục là chỉ chín chụcngày mùa xuân, đi bốn biển chín châu là đi cả bốn biển chín châu theo cách người Trung Quốc xưa phân chia đơn vị hành chính của nước họ. Vì vậy mà chín triều vua trong còng lưng thồ nặng chín triều vua là đểchỉ ông đã phải sống qua rất nhiều triều vua, không có ý gì khác, cũng chẳng định ám chỉ ai hoặc bất cứ điều gì.

Ấy vậy mà hồi ấy người ta bảo ông muốn ám chỉ chế độ dân chủ cộng hòa cũng chẳng khác gì chế độ quân chủ chuyên chế của các triều đại phong kiến ngày trước (!). Hai câu kết bài thơ Giật mình trước mắt nền dân chủ, Hất cái bia đi kẻo trái mùa vì thếcũng chẳng hề có ý định lật đổ hay gì gì đó như hồi ấy người ta gán cho ông. Có chăng đó chỉ là thiện chí muốn gột rửa ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, thực dân; tự đổi mới mình cho hợp với thời đại mới, thời đại tândân chủ dự bị đi lên chủ nghĩa xã hội như cách ông gọi trong bảnTự kiểm thảo ở đợt chỉnh huấn tại Việt Bắc hồi năm 1953 mà gia đình còn giữ được.

Vậy mà một vị nhà văn nọ đã họa bài thơ với những từ ngữ hết sức khó nghe mà người đọc có chút lương tri chắc chắn phải xấu hổ thay. Đây chẳng phải là lần đầu ông bị nghi ngờ. Trước đó cũng đã vài lần ông bị nghi oan đến nỗi phải kêu lên: Tôi sao lại có tâm địa xỏ lá đến nỗi mỗi khi nói phải có ám chỉ ai mới được? Hóa ra câu cửa miệng muốn nói oan… lưu truyền trong dân gian bao đời nay thời nào cũng đúng vậy!

Phóng to

“Nắng được thì cứ nắng”

Đầu năm 2013, tôi nhận được tin vui. Bản thảo Nắng được thì cứ nắng của Phan An Sa, em trai tôi, kể lại cuộc hành trình 23 năm cuối đời của cha tôi, từ lúc là chủ nhiệm báo Sông Hương, qua chủ nhiệm báo Nhân Văn do Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành sẽ ra mắt độc giả. Cuốn sách dày gần 700 trang, khổ 16 x 24cm này tôi đã được đọc từ khi nó còn là bản thảo. Rồi đây những góc khuất trong cuộc đời cha tôi sẽ được trở ra ánh sáng. Những gì mà một thời người ta viết về ông, làm cho con người và văn nghiệp của ông bị xô lệch, méo mó đi sẽ được nhìn nhận lại một cách khách quan và công bằng hơn.

Mấy ngày sau, tôi lại được xem tập phim tư liệu Con mắt còn có đuôi trên trang Phóng sự – tài liệu của Đài phát thanh – truyền hình Đà Nẵng. Những điều mà bộ phim nói tới là sự khẳng định rất có ý nghĩa tên tuổi và những đóng góp của ông cho quê hương, đất nước; thể hiện cách nhìn, cách đánh giá mới của nhân dân, trong đó có giới trí thức, nhà văn, nghệ sĩ đối với con người và sự nghiệp văn chương của cha tôi.

Càng vui, tôi lại càng ngậm ngùi khi có thời gian nhìn lại và suy ngẫm về cuộc đời ông. Sao lại có người như cha tôi, suốt một đời đi tìm cái mới cho đất nước, cho khoa học, có khi dấn thân vào cả chốn hiểm nguy, lại một thời gian dài chẳng được ai hiểu cho, mãi tận cuối đời vẫn phải sống trong cô đơn, cô đơn ngay trong chính gia đình của mình? Phải chăng cuộc đời này đã không công bằng, đã quá nghiệt ngã với ông? Hỏi ông còn biết sống với ai, hay cái chết mới chính là sự giải thoát? Năm nay, vào dịp 54 năm ngày ông qua đời, tôi viết câu đối thứ tư dâng lên hương hồn ông:

Đi kháng chiến, đuổi thực dân, tội phản động về cùng chín suối
Đón văn minh, khai dân trí, gương duy tân ở với trời xanh!

Nguồn: http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/van-hoc-sach/20130317/cha-toi—ong-phan-khoi/538416.html

19.06.2015 Posted by | Bài viết, Văn học - Nghệ thuật | , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Chữ Quốc Ngữ

ImageHandler.ashx

Học giả Nguyễn Văn Vỉnh (1882 – 1936)

Nhân kỷ niệm 85 năm bãi bỏ chữ Nho (1919) và80 năm (1924) quyết định đưa chữ Quốc ngữ vào dạytại cấp tiểu học Việt Nam
___

Sự ra đời của chữ quốc ngữ -Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh
Alexandre de Rhodes
(1591 – 1660)
   
Nguyễn Văn Vĩnh
(1882 – 1936)
Chữ Hán từng được dùng ở Việt Nam trong vòng một ngàn năm mãi đến tận đầu thế kỷ thứ 20.
Alexandre de Rhodes (sinh năm 1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư) đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630). Ông là người có công rất lớn trong việc La-mã hoá tiếng Việt (nhiều tác giả gọi là La-tinh hóa. Thực ra mẫu tự chữ cái tiếng Việt hiện nay là mẫu tự chữ Roman chứ không phải là chữ La-tinh).

Kế tục công trình của những người đi trước là các tu sĩ Jesuit (dòng Tên) người Bồ Đào Nha như Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v. trong việc La-mã hóa tiếng Việt, Alexandre de Rhodes đã xuất bản Bài giảng giáo lý Tám ngày đầu tiên bằng tiếng Việt và cuốn từ điển Việt – La – Bồ đầu tiên vào năm 1651 tại Rome. *** Hệ thống chữ viết tiếng Việt dùng chữ cái La-mã này được chúng ta ngày nay gọi là chữ quốc ngữ (chữ viết của quốc gia) ***Nguyễn Văn Vĩnh sinh năm 1882 tại Hà Nội cái năm thành Hà Nội thất thủ vào tay quân Pháp do đại tá Henri Rivière chỉ huy. Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn. Gia đình Nguyễn Văn Vĩnh nghèo nên không có tiền cho con cái đi học. Lên tám tuổi, cậu Vĩnh đã phải đi làm để kiếm sống. Công việc của cậu lúc đó là làm thằng nhỏ kéo quạt để làm mát cho một lớp đào tạo thông ngôn do người Pháp mở ở đình Yên phụ – Hà Nội. Vừa kéo quạt, cậu vừa nghe lỏm bài giảng. Cậu ghi nhớ mọi thứ rất nhanh và còn trả lời được các câu hỏi của thày giáo trong khi các cậu con nhà giàu trong lớp còn đương lúng túng. Thầy giáo người Pháp thấy vậy bèn nói với ông hiệu trưởng giúp tiền cho cậu vào học chính thức. Năm 14 tuổi Nguyễn Văn Vĩnh đỗ đầu khóa học và trở thành một thông dịch viên xuất sắc. Sau đó ông được bổ làm trợ lý cho công sứ Pháp tỉnh Bắc Ninh. Năm 1906, lúc ông 24 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh được Pháp gửi sang dự triển lãm tại Marseilles. Tại đây, ông được tiếp cận với kỹ nghệ in ấn và báo chí. Ông còn là người Việt Nam đầu tiên gia nhập hội Nhân quyền Pháp. Trở về Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh từ bỏ nghiệp quan chức và bắt đầu làm báo tự do. Năm 1907 ông mở nhà in đầu tiên ở Hà Nội và xuất bản tờ Đăng Cổ Tùng Báo – tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ. Năm 1913 ông xuất bản tờ Đông dương Tạp chí để dạy dân Việt viết văn bằng quốc ngữ. Ông là người đầu tiên dịch ra chữ quốc ngữ các tác phẩm của các đại văn hào Pháp như Balzac, Victor Hugo, Alexandre Dumas, La Fontaine, Molière, v.v. và cũng là người đầu tiên dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp. Bản dịch Kiều của ông Vĩnh rất đặc sắc, vì ông không chỉ dịch cả câu mà còn dịch nghĩa từng chữ và kể rõ các tích cổ gắn với nghĩa đó – một điều chỉ có những ai am hiểu sâu sắc văn chương Việt Nam (bằng chữ Nôm),Trung Hoa (bằng chữ Nho), và Pháp mới có thể làm được. Sự cố gắng và sức làm việc phi thường của ông Vĩnh đã góp phần rất quan trọng trong việc truyền bá kiến thức và văn hoá phương Tây trong dân Việt, và đẩy xã hội Việt Nam đi đến chỗ dần dần chấp nhận chữ quốc ngữ. Năm 1915 vua Duy Tân ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi (Hương – Hội – Đình) ở Bắc Kỳ. Năm 1918 vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi này ở Trung Kỳ và đến năm 1919 bãi bỏ hoàn toàn các trường dạy chữ Nho, thay thế bằng hệ thống trường Pháp – Việt. Ngày 18 tháng 9 năm 1924, toàn quyền Đông Dương Merlin ký quyết định đưa chữ Quốc Ngữ vào dạy ở ba năm đầu cấp tiểu học. Như vậy là, sau gần ba thế kỷ kể từ khi cuốn từ điển Việt – La – Bồ của Alexandre de Rhodes ra đời, người Việt Nam mới thật sự đoạn tuyệt với chữ viết của Trung Hoa, chính thức chuyển sang dùng chữ quốc ngữ. Đây quả thực là một cuộc chuyển hóa vô cùng lớn lao, trong đó ông Nguyễn Văn Vĩnh đã vô hình chung đóng vai trò một nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Vĩnh, tuy nhiên, đã không thể kiếm sống bằng nghề báo của mình. Ông là người luôn lên tiếng phản đối chính sách hà khắc của Pháp đối với thuộc địa, là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đã hai lần từ chối huân chương Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Pháp ban tặng, và cũng là người đã cùng với bốn người Pháp viết đơn gửi chính quyền Đông Dương phản đối việc bắt giữ cụ Phan Chu Trinh. Vì thế chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dương chẳng ưa gì ông. Tòa báo của ông vỡ nợ. Gia sản của ông bị tịch biên. Ông bỏ đi đào vàng ở Lào và mất ở đó năm 1936 vì sốt rét. Người ta tìm thấy xác ông nằm trong một chiếc thuyền độc  mộc trên một dòng sông ở Sepole. Trong tay ông lúc đó vẫn còn nắm chặt một cây bút và một quyển sổ ghi chép: Ông đang viết dở thiên ký sự bằng tiếng Pháp Một tháng với những người tìm vàng. Khi đoàn tàu chở chiếc quan tài mang thi hài ông Vĩnh về đến ga Hàng Cỏ, hàng ngàn người dân Hà Nội đứng chờ trong một sự yên lặng vô cùng trang nghiêm trước quảng trường nhà ga để đưa tiễn ông Con người bằng tài năng và sức lao động không biết mệt mỏi của Mình đã góp phần làm cho chữ quốc ngữ trở thành chữ viết của toàn dân Việt. —Tôi đã vẽ bức tranh Sự ra đời của chữ quốc ngữ- Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh với lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với hai vĩ nhân nói trên của dân tộc Việt Nam – Alexandre de Rhodes và Nguyễn Văn Vĩnh.

——

Lời cảm ơn:

Tác giả bài viết này biết ơn thân sinh của mình – nhà giáo Nguyễn Đình Nam, người đầu tiên kể cho tác giả về cuộc đời và sự nghiệp của cụ Nguyễn Văn Vĩnh từ khi tác giả còn là học sinh tiểu học, khi sách giáo khoa chính thống còn gọi Alexandre Rhodes là gián điệp còn Nguyễn Văn Vĩnh là bồi bút của Pháp.

Tác giả xin chân thành cảm ơn ông Nguyễn Kỳ – con trai cụ Nguyễn Văn Vĩnh, và ông Nguyên Lân Bình – cháu nội cụ Nguyễn Văn Vĩnh vì những câu chuyện xúc động về cuộc sống và sự nghiệp của cụ Nguyễn Văn Vĩnh cũng như của gia tộc cụ. Tác giả xin cảm ơn thày Trí – cháu ngoại cụ Nguyễn Văn Vĩnh , đồng thời từng là thày dạy toán của tác giả khi tác giả là học sinh trung học.

Nguyễn Đình Đăng Tokyo, 10/11/2004

Nguồn: Kim Sơn’s Email – lamtuvi@gmail.com

29.03.2013 Posted by | Văn học - Nghệ thuật | | %(count) bình luận

Niềm tin vượt qua sợ hãi

SGTT.VN – 132 phút phim về người đàn bà “hoa lài” ở đất nước Myanmar của đạo diễn Luc Besson, người từng được mệnh danh là Steven Spielberg của nước Pháp, là những giây phút đem lại thú vị cho bất kỳ ai yêu những câu chuyện thần kỳ có thật giữa thế kỷ 21 này.

 

Cảnh trong phim The Lady. Ảnh:

 

The Lady, với vai diễn xuất sắc của nữ diễn viên Dương Tử Quỳnh, đã tái tạo lại một chặng đường trong cuộc đời của người đàn bà lừng danh Aung San Suu Kyi, và cũng là một giai đoạn thử thách của vận mệnh dân tộc Myanmar. Hình ảnh cuối của phim khép lại với nụ cười tiều tuỵ nhưng mãnh liệt của nhân vật chính là Suu Kyi, như muốn khắc vào tim người xem rằng với niềm tin, người ta có thể vượt qua sự sợ hãi trước cái ác và bạo lực.

 

Câu chuyện của The Lady là những thông điệp cuộc sống đan chéo giữa câu chuyện đời của gia đình bà Aung San Suu Kyi, với người chồng là nhà văn Michael Aris. Từ một người phụ nữ nhỏ nhẹ và chỉ quen chuyện chăm sóc cho gia đình của mình, đột nhiên số phận đưa đẩy bà trở thành lãnh tụ đảng đối lập, hơn nữa, là người đàn bà nhận giải Nobel hoà bình năm 1991.

 

“Khi mình cho là không dính gì đến chính trị thì đừng quên là cũng có lúc chính trị sẽ nhìn đến mình”, trong phim, bà Aung San Suu Kyi đã viết và dán thông điệp trên lên trước cửa nhà mình, nơi bà cô đơn giữa các họng súng.

 

Bộ phim là một chuỗi dài những câu chuyện quen thuộc và gần gũi của một đời người sống giữa an ninh, mật vụ, những trò trấn áp hèn hạ. Chung quanh người đàn bà yếu ớt đó là súng và những kẻ chỉ biết bóp cò súng một cách vô tri theo lệnh cấp trên. Trong một phân đoạn nhỏ, kẻ giết người không gớm tay của tướng Than Shwe đột nhiên hết sức gần với con người khi nghe tiếng đàn piano của bà Aung San Suu Kyi, “âm nhạc”, tên đồ tể gật gù. Ở một cảnh khác, khi rút khỏi nhà của bà Aung San Suu Kyi, tên đồ tể đó lại cười chào bà. Dường như Luc Besson muốn gửi lại trong những khung hình đó rằng kẻ tàn bạo nhất, rồi cũng sẽ được cứu rỗi khi được văn hoá chạm đến trái tim.

 

Phim cho thấy suốt một thời gian dài, hơn một phần tư thế kỷ, dân tộc đất Phật Myanmar phải cam chịu bạo quyền và độc tài, nhưng ngọn lửa yêu tự do và dân chủ trong trái tim của người dân chưa bao giờ nguôi. Khi Luc Besson thực hiện phim này, ông cũng chỉ có một niềm tin. Vào thời điểm đó, xe tăng vẫn còn đậu trước cửa nhà của bà Aung San Suu Kyi, các thành viên đảng Liên minh Quốc gia vì Dân Chủ vẫn đang ngồi tù. Thế nhưng huyền thoại đã rực sáng khi Aung San Suu Kyi tự do và trở thành một trong những niềm tin vĩ đại của miền đất Phật.

 

Không thể không ca ngợi vai diễn của diễn viên Dương Tử Quỳnh. Ánh mắt và dáng điệu của bà Aung San Suu Kyi đã được tái tạo một cách cảm động nhuần nhuyễn. Ở một vai diễn chỉ có ánh mắt và sự im lặng là chính, Dương Tử Quỳnh có lẽ đã làm không ít khán giả bật khóc khi sẻ chia sự cô đơn khủng khiếp của bà Aung San Suu Kyi.

 

Vai người chồng của bà Aung San Suu Kyi, nhà văn Michael Aris, do David Thewlis vào vai cũng là một phần làm nên sự thơ mộng và ray rứt của bộ phim.

 

Vào lúc này, câu chuyện của The Lady đã lan toả khắp thế giới, như một bài học nhỏ về niềm tin của con người có thể vượt qua mọi sự sợ hãi. Và có lẽ chỉ có những niềm tin như vậy gặp nhau, nhà biên kịch Rebecca Frayn mới cất công miệt mài rút gọn khối tư liệu dài ba năm phỏng vấn bà Aung San Suu Kyi để chắt lọc những bi hùng đáng giá của daw(*) Aung San Suu Kyi và đưa nó đến với mọi người như một thông điệp tuyệt đẹp cho thế giới này.

 

Tuấn Khanh

 

(*)daw, tiếng Myanmar là bà, với sự kính trọng.

Nguồn: http://sgtt.vn/Van-hoa/165696/Niem-tin-vuot-qua-so-hai.html

07.07.2012 Posted by | Văn học - Nghệ thuật | , | 6 phản hồi

Bi kịch

Tác giả: Phùng Quán 

Phùng Quán (1932 - 1995) - Ành: Wikipedia

Mọi bi kịch

ngoài đời – trong sách

đều phải có màn, có lớp

và có lúc kết thúc….

 

Cũng như anh

vừa khát thơ – vừa khát được nhìn em!

 

Thượng đế, người bày đặt thiên tài

Shakespeare, người viết kịch thượng đế

cũng không nghĩ được gì khác hơn

 – kết thúc bi kịch

ngoài chia ly và cái chết,

buồn quá phải không em!

 

Nhưng nghĩ lại

cả hai đều có lý

Nếu họ đặt bày những điều tốt đẹp

Ophelia không vừa hát vừa chết chìm trên suối

mà lại nằm tênh hênh trên giường cưới!

Romeo đưa Juliet đi đặt vòng!

Desdemona chửa ngoài kế hoạch!

 

Anh lại không khát thơ – không khát được nhìn em

Anh lại chong đèn thâu đêm

anh viết diễn ca nghị quyết

 

Chung một ngọn đèn

Em viết bút ký theo đơn đặt hàng

nhuận bút từng đồng em tính toan

 

Kết thúc ấy mới là khủng khiếp

Vì bi kịch đã biến thành hài kịch

Ghi theo trí nhớ HCK

Nguồn: http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=17577

30.12.2011 Posted by | Văn học - Nghệ thuật | | 4 phản hồi

Cỏ Quy Nhơn

Ảnh ST trên Google

Tác giả : Lê Minh Kha

Không khó để tìm thấy sắc xanh của cỏ trong bất kỳ chiều nào bạn dạo bước trên đường phố Quy Nhơn…

1. Cỏ hiện hữu ở khắp nơi. Cỏ  làm duyên nơi những công viên xanh, men theo bờ biển, vòng tay ôm đại dương; cỏ xanh mướt trong “khoảnh đất vàng” gần siêu thị – nơi các bé và gia đình vui chơi, thả diều ngày hạ; cỏ vào khuôn viên trường học, làm dịu cái nắng chói chang hòa trong tiếng ve gọi mùa; cỏ nép mình bên những vệ đường, trong những khu vườn hẻm nhỏ, mở dần ra một thế giới tinh khôi, tĩnh lặng.

Chiếc lá cỏ bình thường, một mình đứng mang dáng hình lẻ loi, trơ trọi, nhưng cả vạt cỏ, có khả năng gom màu xanh, rào lên sự sống. Cỏ hồn nhiên, vô tư lự, cứ sống và gieo mầm xanh cho đời. Cỏ nhỏ mọn, tầm thường nhưng vẫn thâu chứa bao điều huyền diệu của vũ trụ, giống như lời thơ của Tagore Trong sân chầu vũ trụ / chiếc lá cỏ bình thường / cũng ngồi chung một thảm / với ánh mặt trời và sao sáng trong đêm.

2. Bạn đã thấy cả vũ trụ trong một lá cỏ chưa? Cỏ mọc là quá trình chắt chiu từ đất để tạo gam màu lá. Màu lá luôn vận động, biến chuyển, như dòng đời: khi non tơ mơn mởn, khi xanh ngắt rì rào, khi ngả màu vàng úa, tàn phai. Niềm vui như sóng cỏ xanh tươi rợn tới trời nhưng nỗi buồn mang trái tim màu cỏ úa. Vui – buồn, hạnh phúc – khổ đau, cả vòng sinh hóa – hóa sinh có thể được cảm nghiệm qua một đời cỏ nhiệm mầu. Mọc lên từ đất, nhưng sau khi đã đi hết chặng đường của mình, chiếc lá cỏ bé nhỏ lại trở về với đất, hòa vào nguồn cội, một cõi đi về.

Tinh thần Thiền gắn liền với quan niệm nhất thể hóa, cả vũ trụ có thể thu mình trong những vật vô cùng nhỏ bé như hạt đậu, lá cỏ… Mỗi sự vật đã và đang tồn tại, biết đâu chẳng in hình một lá cỏ bên trong. Cả tôi và bạn, hẳn đã từng là một lá cỏ bên sân đời. Ai chẳng có lần hồn nhiên như cỏ, vô tư mà đi, có bao va vấp, cũng tựa vào Đất Mẹ mà đứng dậy.

3. Không điểm tô cho đời hoa trái, cỏ là cỏ! Cỏ đẹp trong vẻ giản dị, bền bĩ sự sống, kết nối với nhau và hòa vào Đất. Tôi vẫn thường đưa cháu ra khuôn viên gần Trung tâm thương mại Quy Nhơn thả diều. Cháu chạy chân trần trên cỏ, đùa nghịch như một thiên thần trong nắng chiều. Dưới bãi cỏ non xanh mướt, tôi nghe niềm vui của cỏ tung tăng trên bước chân trẻ thơ. Cũng như cánh diều vút bay trời cao, cỏ non và bóng hình trẻ nhỏ thâu gom tất cả những gì tinh khôi, vẹn nguyên của khoảnh khắc đó. Một khoảnh khắc hóa vĩnh cửu, nó cho ta biết về mối tương giao giữa con người và mặt đất – nơi anh ta sống. Cánh diều trên khoảng không bao la diệu vợi – đứa trẻ hồn nhiên và mặt đất đang dậy hương cỏ ngai ngái nắng chiều. Thực và mộng cũng bước đi theo nhịp thời gian, hiện hữu mà vô biên.

Có mấy nơi dễ dàng có được niềm vui như thế này như ở Quy Nhơn không?

4.Tôi có thói quen ngồi lặng thinh trong khu vườn nhà mình, pha một ấm trà và ngắm những vạt cỏ ủ hương đêm. Những con phố và thảm cỏ gắn liền với cuộc đời tôi, nơi tôi đã đặt lên môi người con gái tôi yêu nụ hôn đầu, nơi tôi cùng đám bạn sinh viên đàn hát lướt khướt đêm say, nơi tôi một mình đi dưới ánh đèn vàng, thấy bóng mình hòa vào bóng cỏ… Đâu biết cỏ đã ở trong tôi từ dạo ấy!

Bạn có thể tìm thấy tình yêu thành phố giản dị này ngay từ lá cỏ Quy Nhơn.

Nguồn: http://www.baobinhdinh.com.vn/vanhoa-nghethuat/2011/9/116454/

18.09.2011 Posted by | Quê hương, Văn học - Nghệ thuật | | 6 phản hồi

Lê Hoàng Long: cả đời vẫn mãi ‘gợi giấc mơ xưa’

Có nhiều nhạc sỹ cả đời chỉ để lại cho hậu thế vài bản nhạc, thậm chí có khi chỉ một tác phẩm, nhưng đó lại là những sáng tác để đời. Nhạc sỹ Lê Hoàng Long của chúng ta là một trong số đó.

Nhạc sỹ Lê Hoàng Long

Lê Hoàng Long sinh năm 1930 tại Sơn Tây.

Ông từng học violon với thầy Lã Hữu Quỳnh rồi với thầy Lương Ngọc Châu và cũng học hòa âm với giáo sư Tạ Phước.

Từ năm 1950, Lê Hoàng Long học tại Trường âm nhạc Việt Bắc ở Tuyên Quang do nhạc sĩ Văn Cao làm hiệu trưởng, nhạc sĩ Tô Vũ là giáo sư hòa âm.

Năm 1954 Lê Hoàng Long vào định cư tại Sài Gòn, sau đó chuyển về Huế. Ở Huế được hai năm ông lại quay lại tiếp tục sống ở Sài Gòn.

Nhạc phẩm Gợi giấc mơ xưa được ông viết tại Sài Gòn năm 1955 khi người yêu của ông đi lấy chồng. Gia đình cô không đồng ý với tình yêu của hai người vì ông chỉ là một nhạc công violon.

“Ngày mai lênh đênh trên sông Hương

Theo gió mơ hồ hồn về đâu

Sóng sầu dâng theo bao năm tháng

Ngóng về đường lối cũ tìm em…

Anh ơi, đời đã lỡ hẹn thề thì đâu có ngày về

Xa anh đời em tắt nụ cười héo hắt đôi làn môi

Đêm đêm đèn le lói một mình ngồi ôm giấc mộng tình

Kiếp sau đôi tim hòa chào đón ánh bình minh. ”

Gợi giấc mơ xưa trở thành một nhạc phẩm nổi tiếng và được nhiều thế hệ ca sĩ trình bày. Lê Hoàng Long cũng là người có nhiều bài viết, tiểu sử về các nhạc sĩ Việt Nam.

ĐÔI ĐIỀU VỀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA ‘GỢI GIẤC MƠ XƯA’

Theo: http://vnexpress.net/gl/van-hoa/am-nhac/2002/11/3b9c272a/

“Gợi giấc mơ xưa” là bài hát có hương vị thất tình. Ông có thể hé mở đôi chút về mối tình này?

– Tôi bây giờ đã già, con cái đã trưởng thành rồi, còn người ấy cũng đã cùng con cái cháu chắt ở tận phương trời nào. Thành thử tôi chẳng ngại gì mà giấu diếm. Khi còn ở Sài Gòn năm 1954, tôi có quen và yêu một người con gái tên là Lê Thu Hiền. Tình yêu đang đẹp thì bỗng có người đến xin cưới nàng. Ngay lập tức, nàng dẫn tôi đến gặp bố mình. Gặp ông, tôi chính thức xin được làm rể, nhưng ông bảo: “Để hỏi ý kiến xem em nó thế nào đã”. Không ngờ khi tôi ra về, ông quát mắng con gái: “Nếu bằng lòng lấy anh giám đốc trường dạy lái xe Auto Ecole Mayer thì còn gia đình. Còn nếu lấy anh chàng chỉ biết chơi violon tối ngày thì không còn cha con, dòng họ gì hết”. Và thế là thủ tục cưới của họ cứ tuần tự diễn ra. Hôm đó là một ngày chủ nhật cận tết Ất Mùi năm 1955, tôi đau đớn chứng kiến người yêu lên xe hoa. Ngồi chờ đoàn xe đưa cô dâu về nhà chồng trong một quán cà phê ở đường Hiền Vương (nay là đường Võ Thị Sáu), tôi thấy nàng ôm bó hoa màu trắng trong lễ phục cô dâu cùng chú rể bước lên xe. Đoàn xe chậm rãi đi qua chỗ tôi ngồi, bánh xe lăn trên đường như nghiến nát hồn tôi. Ngay lúc đó, tâm trí tôi đã hiện lên ý nhạc. Khi đoàn xe đi khuất, tôi trở về căn gác nhỏ ở đường Lý Thái Tổ và hoàn tất bài Gợi giấc mơ xưa, cả phần nhạc lẫn phần lời trong chưa đầy 10 phút.

Câu chuyện xảy ra ở Sài Gòn, tại sao bài hát lại bắt đầu bằng câu “Ngày mai lênh đênh trên sông Hương…” ?

– Đang làm ở Sài Gòn nhưng tôi quyết tâm xin ra Huế, xa những con đường, góc phố để quên đi. Tuy vậy, sau hai năm sống với sông Hương, núi Ngự, tôi vẫn không sao quên được hình bóng cũ. Giã từ Huế trở lại Sài Gòn, chiều chiều tôi lại lang thang trên lối cũ như một kẻ bị tâm thần giữa Sài Gòn hoa lệ.

Rồi ông có gặp lại cố nhân không?

– Có, nhưng chỉ vô tình gặp giữa đường phố. Hai người chỉ trao đổi ít lời ngắn ngủi về cuộc sống rồi chia tay. Biết nàng đã tay bế tay bồng nên tôi không muốn gặp thêm lần nào nữa để khỏi khuấy động hạnh phúc của nàng. Tôi lập gia đình sau đó và có 6 người con. Vợ tôi mất đột ngột vào năm 1975. Đến năm 1981, tôi tục huyền và có thêm một cháu gái. Chỉ có cô con út này là có máu văn nghệ như bố, cháu hát khá hay và đã đoạt giải nhất cuộc thi hát với organ năm 1999.

Mời bạn đọc nghe lại bản nhạc này theo đường link:

Nghe “Gợi giấc mơ xưa” của nhạc sỹ Lê Hoàng Long qua tiếng hát trầm ấm của Sỹ Phú

Nguồn: http://www.dongnhacxua.com/le-hoang-long-goi-giac-mo-xua

07.09.2011 Posted by | Văn học - Nghệ thuật | , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Làng ven sông NGÀY ẤY

Taysonquynhon’s Blog xin giới thiệu một tản văn của tác giả Trần Quang Lộc. Anh Trần Quang Lộc hiện đang là Thường trực Ban biên tập Tạp chí Văn nghệ Bình Định. Văn phong của anh không rườm rà về từ ngữ, luôn đậm chất tự sự, bình dị. Thấp thoáng đâu đó một vài câu văn hay một đoạn văn với lối kể chuyện nhẹ nhàng gợi lên cho người đọc bắt gặp nhiều hình ảnh sinh động đầy âm thanh và màu sắc. Câu chuyện có lẽ còn dài nhưng tác giả đã cố gắng cô đọng để đem đến cho bạn đọc một cách nhìn riêng về nông thôn xưa và nay. Mong rằng cái nhìn lạc quan cũng như những ưu tư trong bài viết của anh sẽ bắt gặp sự đồng cảm của bạn đọc gần xa.

Đồng lúa xanh - Ảnh tự chụp

 

Tản văn của Trần Quang Lộc

Làng tôi, ngôi làng nhỏ của một huyện miền trung du. làng nằm ven sông, dòng sông quê êm đềm lặng lẽ xuôi về cửa biển. Xa xa, tận phía cuối làng là dãy đồi sim nhấp nhô một màu thẫm tím.

   Hồi nhỏ, có  lần tôi theo ông nội tôi đi chơi trên tỉnh về. Lúc đứng chờ đò sang sông, ông tôi chỉ tay về phía làng, bảo : “Với thế núi đó, hình sông đó, làng ta thuộc diện địa linh, nhân kiệt. Thời nào làng ta cũng có nhiều người học hành đỗ đạt, làm nên danh phận”. Thời nào thì tôi chưa biết chứ thời bấy giờ, làng tôi đã có mấy ông đậu bằng bác sĩ, kĩ sư đang làm việc trên tỉnh, ba tôi đậu cử nhân khoa sư phạm ngữ văn. Ông tôi đỗ đầu khoa thi Hương cuối cùng triều Nguyễn. Trong làng còn có nhiều cụ đồ nho nổi tiếng văn hay chữ tốt. Các cụ thường đến nhà chơi cờ hoặc bàn chuyện văn chương chữ nghĩa thánh hiền với ông tôi. Nghe nói thời Chúa Trịnh Sâm, làng có hai người đậu tiến sĩ
     Nhà ông tôi, ngôi nhà lá mái năm gian cũ kỹ tồn tại từ thời cụ kỵ. Gian phía tây ông tôi dùng làm phòng mạch Đông y. Gian giữa thờ phụng tổ tiên. Tường phía đông giáp với cửa hàng tạp hóa của mẹ tôi cạnh bến đò ngang. Nhà được xây trên khu đất cao ráo, thoáng đãng, quay mặt ra dòng sông xanh êm đềm. Mùa hè, gió từ mặt sông thốc lên lồng lộng. Đứng trước sân nhà có thể ngắm nhìn thõa thích toàn cảnh bến quê với những chuyến đò ngang mái chèo khoan nhặt nối liền hai bờ lau trắng lưa thưa. Ngày đông tháng giá, quê tôi lảng đảng một màu sương khói. Gam màu buồn thường gợi lên nỗi hoài niệm bâng khuân man mác. Vào những mùa trăng, ông tôi thường bắc ghế ngồi trước sân nhà thả hồn lênh đênh trên dòng nước loang loáng ánh vàng với những chuyến đò đêm lặng lẽ. Lúc cao hứng, ông ngâm thơ sang sảng. Ông tôi thuộc rất nhiều thơ Đường ! Có bài thơ ông ngâm đi ngâm lại nhiều lần đến nỗi tôi nghe thuộc như cháo chảy. Sau nầy tôi mới biết đó là bài Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế đời Đường.

   Sau ngày nội tôi mất, ba tôi xin thôi dạy về thay ông tôi tiếp tục hành nghề bốc thuốc. Nghề cứu người cha truyền con nối đã mấy đời không thể bỏ được. Với nghề bốc thuốc, ba tôi rất mát tay. Nhiều căn bệnh hiểm nghèo Tây y bất lực, gặp ba tôi là khỏi hẳn. Ba tôi còn được một ông thầy Tàu mách cho mấy phương thuốc Nam bí truyền từng chữa khỏi hẳn những chứng nan y. Tiếng lành đồn xa. Quầy bốc thuốc Đông y cạnh bến đò ngang lúc nào cũng có tiếng giã thuốc lịch bịch, leng keng, người ra vào nhộn nhịp. Bệnh nhân thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội, trong vùng có, từ các tỉnh xa nghe tiếng tìm đến cũng nhiều. Ngoài sở trường Đông y, ba tôi còn biết thêm chút ít Tây y nhờ tham dự khóa học sáu tháng do một cơ sở y tế tổ chức. Với Tây y, ba tôi chỉ dùng vào việc cấp cứu. Việc chữa bệnh, ba tôi không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, thù bạn. “Đã là bệnh nhân phải được chữa trị bình đẳng bằng lương tâm người thầy thuốc”, ông tôi thường khuyên ba tôi như thế. Nhưng cái khoản y phí, ba tôi phân định rạch ròi. Bệnh nhân thuộc thành phần giàu có, ba tôi tính tiền sòng phẳng. Thường thường bậc trung, lấy giá phải chăng. Diện nghèo khó neo đơn, ba tôi miễn phí hoàn toàn, thậm chí còn giúp tiền tàu xe nếu người bệnh ở xa. Không ít người được ba tôi chữa khỏi bệnh, họ mang quà cáp lặn lội từ xa đến để gọi là đền ơn đáp nghĩa. Cũng tùy trường hợp mà ba tôi nhận hay không nhận. Y đức ba tôi ngày càng lan rộng, được mọi người quý trọng, kính nể không thua kém nội tôi ngày trước.

   Thường những buổi trưa hè rỗi việc, ba con tôi mang lồng đi nhử cu cườm trên các rẫy lúa, rẫy đậu dưới chân đồi. Không gì thú vị bằng được nằm dưới tán lá xum xuê nghe cu cườm gáy lúc xao xác bên tai, lúc mơ hồ xa vắng ! Khác với họa mi, sơn ca, khướu … cu cườm chỉ gáy. Âm giọng khi gần khi xa, lúc khoan lúc nhặt thoáng gợn chút buồn man mác vu vơ vừa gợi lên khung cảnh đồng quê thanh bình êm ả. Thật khó mà dùng ngôn ngữ để lột tả hết tiếng gáy độc đáo của giống cu cườm vào những buổi trưa hè. “Cu cườm xuất hiện báo hiệu một vụ mùa bội thu”. Ba tôi bảo thế.

   Vào một buổi trưa, ba tôi đang nằm thư giãn trên lớp cỏ non tơ ngắm nhìn trời xanh qua những tán lá rừng nghe cu gáy râm ran. Bỗng có tiếng bẫy sập đánh “cách”, tiếp đến là tiếng vỗ cánh phành phạch. Ba tôi ngồi bật dậy quơ lấy cây sào trúc một đầu có móc sắt hạ chiếc bẫy từ trên đọt cao xuống. Một chú cườm tơ đã bị sa lưới ! Ba bảo tôi bắt thả vào chiếc lồng tre. Ôi, một chú chim tơ tuyệt đẹp, lông cổ mới trổ cườm lác đác. Nó cứ nghiêng nghiêng cái đầu tròn nhỏ nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên lạ lẫm bằng đôi mắt như hai hạt đậu đen. Vuốt ve chú cườm tơ một lúc rồi không hiểu sao, tôi tung nó lên trời bảo : “Mày gáy hay lắm cườm ơi ! Hãy bay đi”. Ba tôi đang nằm bỗng ngồi bật dậy. Tôi đinh ninh thế nào cũng bị một cái nhéo tai đau điếng. Nhưng không, ba tôi gật gật đầu mấy cái, nói : “Không phải chỉ có mình nó gáy hay. Giống cu cườm đều gáy hay như nhau cả”. Nói xong, ông mở bật nắp lồng tre. Những chú chim vừa bị mắc bẫy lần lượt tung cánh. Ba con tôi ngắm nhìn những cánh chim quần đảo chao liệng một lúc rồi mất hút giữa trời xanh mây trắng. Rời khỏi đồi sim, chúng tôi vẫn còn nghe tiếng gáy râm ran của giống chim quen thuộc. Từ hôm đó, ba tôi không đi săn bắt giống cu cườm nữa. Ông dành thời gian nhàn rỗi vào việc nghiên cứu y thuật hay nói chuyện văn chương với các cụ đồ nho trong làng. Còn tôi, tôi trở lại với góc trời hồn nhiên trong sáng của mình. Những lúc đi xa, mỗi lần bắt gặp âm điệu mang đậm hồn quê đó, tôi cứ thấy nhớ làng, nhớ quê da diết. 

     Tuy là con một, chăm ngoan, học sinh xuất sắc trường làng, nhưng không phải vì thế mà ba má tôi nuông chìu, dễ dãi. Phép nhà xưa nay nghiêm lắm. Theo lời ba tôi kể lại, hồi ba tôi mới ra trường dạy học trên phố huyện, đôi lúc vì ham vui nên  bỏ giờ, bỏ lớp. Biết chuyện, ông nội gọi ba tôi về bắt nằm sấp trên tấm phản gụ quất hai chục roi quắn đít. Thi hành lệnh phạt xong. Ông tôi bắt đầu thuyết giảng về cái đạo làm thầy. Cuối cùng ông bảo, người thầy không những là tấm gương sáng cho học sinh noi theo mà còn để cho người đời soi rọi nữa. Dạy học mà không có cái tâm của người thầy thì hỏng cả một thế hệ. Từ đó, ba tôi lấy lời giáo huấn của ông tôi để rèn luyện đạo làm thầy. Đến thế hệ tôi. Tôi cũng không ít lần bị ba má tôi bắt nằm sấp trên phản gụ, trật mông quất mười roi. Phép nhà xưa nay là vậy, gia phong phải giữ.

   Ngoài việc học tập, tôi còn phải giúp ba tôi giã thuốc hoặc trông coi cửa hàng tạp hóa mỗi khi má tôi sang bên kia sông mua thêm hàng họ. Cửa hàng tạp hóa của má tôi cạnh bến đò ngang. Không ai biết bến đò ngang có từ lúc nào nhưng cây đa trên bến thì to lắm, to đến nỗi năm người dang tay ôm không hết. Cây cổ thụ hàng ngàn năm tuổi, tán lá xum xuê che mát cả bến sông. Rễ đa đan chéo nhau chạy dọc theo triền sông tạo thành tấm lưới chắn tự nhiên vững chắc. Nhờ thế mà bến đò không bị xâm thực, không bị sạt lở mỗi mùa  lũ quét.                                            

    Bến đò làng tôi lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười, tiếng gọi đò ơi ới. Trời vừa hừng đông chưa tỏ mặt người, bà con trong làng đã mang rau, quả, gà vịt … ra bến chờ đò sang sông đưa vào chợ huyện. Trưa, họ trở về với đủ thứ linh tinh như phân bón, cuốc, xẻng, ấm, chén … Bến đò kẻ lên người xuống nhộn nhịp, đò ngang đi lại như con thoi. Có khi đến tận khuya vẫn còn nghe văng vẳng tiếng gọi đò. Ngày nào cũng có vài ba chuyến đò dọc từ miệt biển hoặc từ thượng nguồn cập bến. Chủ đò ghé vào quán mẹ tôi uống nước chè xanh, hút thuốc lào, nói chuyện vặt. Sau đó mua mấy thứ linh tinh rồi xuống đò nhổ neo tiếp tục cuộc hành trình.

   Vào dịp hè, tôi mới có đủ thời gian để rong chơi cùng bạn bè trong làng. Lúc thì chúng tôi kéo nhau đi dọc triền sông săn bắt những chú dế mèn đen nhẫy đem về chọi thi; khi lại theo chuyến đò sang sông leo lên khu đồi cao nhất vừa hái sim chín, vừa ngắm nhìn phong cảnh làng quê êm đềm trong nắng chiều bảng lảng. Rong chơi chán về nhà nằm đọc truyện Tàu, đọc sách nhóm Tự lực Văn đoàn. Thú vị nhất là những ngày hội làng được tổ chức hàng năm trên sân đình vào đầu tháng hai âm lịch. Lúc nầy, lũ nhóc chúng tôi tha hồ đi xem múa lân, xem đua thuyền. Tối ra sân đình xem hát bội. Nói chung, trong dịp hè, lũ trẻ nông thôn chúng tôi hồi đó có nhiều cuộc chơi thú vị lắm!

   Ngày nay, công cuộc đô thị hoá nông thôn đang diễn ra với nhịp độ chóng mặt. Văn minh hiện đại ngày càng len lỏi đến tận vùng sâu vùng xa làm thay đổi bộ mặt nông thôn nghèo nàn lạc hậu, nhưng ở chừng mực nào đó, nó đẩy lùi nếp sống văn hoá, khuấy động đời sống tình cảm của người dân nông thôn đã được hun đúc từ nghìn đời. Không ít làng quê xa xôi yên bình suốt một chiều dài lịch sử bỗng trở thành thị trấn nhộn nhịp ầm ĩ bởi xe cộ, bởi nhà hàng, khách sạn, phòng karaoke lần lượt mọc lên. Nạn trộm cắp, xù huê giựt hụi, tranh nhà lấn đất, chụp giựt cơ hội làm giàu cũng bắt đầu nảy sinh dẫn đến tình trạng chửi rủa nhau, thậm chí còn đâm chém lẫn nhau bất kể tình làng nghĩa xóm vốn có từ nhiều thế hệ.

       Trước cơn lốc đô thị hoá, làng ven sông vẫn bình yên thanh thản như vốn có từ lâu đời: vẫn những chuyến đò ngang lặng lẽ nối liền hai bờ lau trắng, vẫn tiếng gọi đò văng vẳng trong sương, vẫn tiếng cu gáy mơ hồ xa vắng mang đậm hồn quê; dân làng tôi vẫn thật thà nhân hậu, ngày xuân vẫn trai gái hội làng…

       Cậu em út của tôi năm vừa rồi tốt nghiệp xuất sắc ngành sư phạm được nhà trường giữ lại cho học tiếp làm giảng viên, nhưng nó một mực xin về làng vừa dạy học, vừa giúp ba tôi bốc thuốc cứu người.

 Còn tôi, vẫn mang cái kiếp giang hồ vặt nên đâu cũng là quê hương!  

T.Q.L                 

Nguồn:   http://quangloc.vnweblogs.com     

11.03.2011 Posted by | Văn học - Nghệ thuật | , | %(count) bình luận

Ông hoàng, nữ hoàng, diva cũng hát sai lời

Đêm 8 và 9/1/2011 chương trình Duyên dáng Việt Nam 23 đã diễn ra tại Nhà hát Sao Mai, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Tôi không có điều kiện để ra Tuy Hòa nên chỉ xem qua truyền hình trực tiếp đêm 9/1. Thú thật, chương trình đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng. Tôi không có tham vọng nhận định, bình phẩm về một chương trình hoành tráng, đồ sộ như thế vì nó quá sức đối với tôi. Vì vậy, tôi chỉ mạo muội viết về một điều rất nhỏ trong chương trình nhưng tôi vô cùng tâm đắc. Vì nó đã làm cho tôi “ngộ” ra rằng, trước đây nhiều nhà phê bình, nhận định âm nhạc đã nói… trật lất.

Họ cho rằng hát nhạc bình dân, trữ tình cần mộc mạc, rõ lời ca, phải hiểu rõ nội dung bài hát mới có thể diễn đạt cảm xúc để chạm được trái tim người nghe và nhất là không được… quên lời (vì lời còn quên thì làm sao cảm được cái nội dung sâu xa thâm thúy của nó để chuyển tải tới người nghe). Nhưng xem ra các nhà phê bình đã… nhầm to.

 


Nữ hoàng rock Mỹ Như

Nữ hoàng rock Mỹ Như “chìm” trong Biển nhớ

Cái cô ca sĩ Mỹ Như vừa nổi lên ở SMĐH 2010 khá ấn tượng với giọng rock “rừng rú” hừng hực, nhưng đêm 9/1 cô hát bài Biển nhớ của Trịnh Công Sơn. Thay vì lời ca là “đường phố nghe mưa tủi hờn” thì cô hát thành “… yêu thương ngập ngừng”, còn khi hát lần hai (sau giang tấu) thì cô sáng tạo câu này thành “đèn vẫn ngân nga gọi buồn” và còn một số chỗ khác nữa… Nhưng không hề chi, bởi cô có “giọng ca thiên phú” nên bài hát được cô diễn đạt rất sáng tạo và hiệu quả – như sự nhạt nhòa chìm vào trong một chiều mưa trên bãi biển. Quý vị thấy không, hát sai lời thì ăn thua gì.

Diva Mỹ Linh “chết” “bên nàng”?

 

Với bài Dư âm, có quá nhiều sáng tạo trong lời ca: “đẹp bao giấc mơ” được hát thành “đẹp như giấc mơ”; “gieo muôn ý thơ” được hát thành “soi bao ý thơ”... Tôi còn nhớ nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã một lần chia sẻ trên báo là nhiều người thường hát sai đi một chữ làm lời ca của ông vốn phiêu bồng lãng mạn trở thành tầm thường. Mở đầu bài hát với lời ca: “Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ”, nên câu kết phải là “Đưa anh tới cõi mơ hồ nào đây muôn kiếp bên đàn” (“bên đàn” chứ không phải “bên nàng”). Điều này chắc Mỹ Linh dư sức biết (tôi nghĩ thế) nhưng cô đã hát là “bên nàng” và “đưa anh” được hát thành “đưa em”, nguyên câu Mỹ Linh hát như sau: “Đưa em tới cõi mơ hồ nào đây muôn kiếp bên nàng”! Nếu nói cô không nghiên cứu kỹ lời của bài hát thì không đúng, mà có lẽ đây là sự sáng tạo, bởi hát trong một chương trình nhân danh nhạc “sến” thì sáng tạo như vậy cho nó bình dân. Quá đúng đi chứ! Sau khi cô hát xong khán giả vỗ tay rào rào đã nói lên điều đó.

Ông hoàng nhạc trữ tình Quang Dũng mất tập trung bởi MC?

 

Hát trong chương trình mà MC là một hoa hậu xinh đẹp, ban đầu tôi cứ nghĩ rằng vì lý do đó nên Quang Dũng mất tập trung và dẫn đến… quên lời bài hát. Nhưng xem ra không đúng, Quang Dũng được xem là giọng ca thượng thặng “chuyên trị” nhạc trữ tình, cái bài Lá đổ muôn chiều này có lẽ anh hát như “cháo” trong sự nghiệp biểu diễn của mình, làm sao mà quên lời được. Nếu nói quên lời thì quên một, hai chữ thôi chứ, đằng này lại quên nguyên cả câu. “Thuyền rời xa bến vắng người ơi” được anh sáng tạo bằng cách ghép phần đầu của câu hát trước đó với phần đuôi của câu hát này: “Cầm bằng như không biết người ơi”, hoặc câu kết “Còn nhớ phương nào hoa đã rơi” được hát thành “Còn nhớ hôm nào hoa đã rơi”. Các bạn thấy “kinh” không? Chỉ có năng lực sáng tạo dữ dội mới dám làm những điều đó…

Hương Lan bình dân hóa “nhạc sang”?

 

Công chúng TP.HCM ai mà không biết giọng ca Hương Lan, một ca sĩ cựu trào với giọng hát ngọt ngào, da diết, đặc biệt là những ca khúc mang âm hưởng dân ca Nam bộ. Có thể nói chị là chuyên gia hát nhạc bình dân cũng chẳng sai. Cho nên trong bài Đàn chim Việt của Văn Cao (mà tôi nghe nói người ta xếp bài này vào “nhạc sang”), câu “Mờ mờ trong nắng ven trời” chị đã hát hoàn toàn khác: “Hồn còn vương vấn trời xa”, không phải vì chị quên lời mà theo tôi đây là sự “bình dân hóa” chăng, bởi chị đã quen với ca từ mộc mạc như trong các bài hát Còn thương rau đắng mọc sau hè, Còn thương góc bếp chái hè… mà chị từng chinh phục khán giả? Và vì sáng tạo lời ca nên có nốt nhạc được sáng tạo luôn để phù hợp với lời ca!

Còn nhiều trường hợp nữa nhưng tôi không thể nêu hết ra đây và khi nêu những trường hợp như trên, hoàn toàn tôi không có ý phê bình các ca sĩ như các nhà phê bình, nhận định âm nhạc thường “trảm” một cách thô thiển những người hát sai lời. Bởi họ chẳng phải là ca sĩ mới như Lân Nhã, Uyên Linh (cùng biểu diễn trong đêm 9/1) mà là những diva, ông hoàng, chuyên gia, hoặc mới mẻ như Mỹ Như cũng được phong là nữ hoàng, giọng ca thiên phú. Còn các bài hát mà họ hát có phải mới rợi như… Bài hát Việt đâu mà chưa thuộc lời, nó đã có hàng nửa thế kỷ rồi.

Tôi nêu lên những dẫn chứng “hùng hồn” này để muốn nói với các nhà phê bình rằng, các vị phải… thực tiễn, bởi làm gì đi nữa thì cái đích cuối cùng của người ca sĩ là chinh phục người nghe. Các vị có chứng kiến sau mỗi tiết mục của những ca sĩ nói trên, khán giả vỗ tay rào rào như… mưa rào đó không? Nên cái “định luật” hát sai lời mà các vị đã và đang áp dụng để đánh giá ca sĩ là lỗi thời rồi, cần phải xem lại.

Với một đẳng cấp nhất định thì việc hát không đúng lời phải được xem là sáng tạo chứ!

Hải Long

 Nguồn: thethaovanhoa.vn

14.01.2011 Posted by | Văn học - Nghệ thuật | , | %(count) bình luận

Thèm đi dạy

Tác giả: PHÙNG HI

Về học vấn, hắn là cử nhân văn chương đại học sư phạm. Nói sợ buồn, chứ giăng mẻ lưới tại sở giáo dục tóm cả thúng văn bằng như thế mà chủ nhân của chúng đang dài cổ chờ việc.

Về gia cảnh, cha hắn theo vợ nhỏ, mẹ chưa già nhưng đau bịnh kinh niên. Hai mẹ con hắn sống với hai sào rưỡi ruộng cùng mảnh vườn nhỏ đơn côi giữa đồng, tứ bề gió thổi. Hắn chẳng mấy đẹp trai lại nhút nhát, thiệt thà và… hơi khờ. Toàn bộ tính cách hắn đóng khung vô hai chữ “đáng thương”.

Minh họa: Nguyễn Ngọc Thuần

Bốn năm trời ròng rã, hắn cút kít đạp xe từ miền quê xuống thành phố, hơn hai chục cây số cả đi lẫn về, học cho xong đại học sư phạm. Nghe mà thấy khổ cơ nào!

Cái thời kiếm đỏ mắt mới ra người học văn lẫn kẻ dạy văn có cảm xúc, cảm thán, cảm thức gì đó chuyện nghề, chuyện đời để viết góp đôi dòng văn chương, trong khi ấy hắn có nhiều cái tạp bút dễ thương về trường lớp, mấy chục bài thơ hay hay về tình bạn, tình thầy trò, năm bảy cái tiểu luận về ca dao tục ngữ, về nông thôn đăng lên báo, trải dài từ thời hắn học phổ thông. Giới văn nghệ cấp tỉnh phán một câu về hắn: “Xem ra nó cũng có chút tài đấy!”.

Đợt hắn thực tập sư phạm, có cô bé giỏi văn lớp 11 viết bài báo ca ngợi hắn tận mây xanh mây vàng, đại ý là: Thầy rất nhiệt tâm, say mê với nghề. Thầy giảng văn rất hay, rất cuốn hút. Tương lai thầy sẽ là một giáo viên giỏi, đúng mực với học sinh, hết lòng với sự nghiệp đã chọn. Bài báo điểm trúng “huyệt hành sư” của hắn.

Tốt nghiệp xong, hắn nộp đơn chờ bổ nhiệm ở sở giáo dục, rồi quay về giúp mẹ làm ruộng, nuôi gà. Mỗi ngày hắn mất 2.000 đồng tới tiệm net để liên lạc với bút nhóm Sao Xanh; do hồi kiến tập ở trường trung học phổ thông chuyên, học sinh nghe danh tìm đến bầu hắn làm trưởng nhóm. Bút viên Sao Xanh coi hắn như bậc thầy đúng nghĩa. Hắn lén thương một cô em trong nhóm rồi gửi hồn vào thơ, chứ cái nghèo đã tàn bạo chặn đứng tình cảm dạt dào trong hắn.

Ông thầy dạy văn hắn hỏi thăm:

– Em nộp đơn xin việc những đâu?

– Dạ, em chỉ nộp đơn ở sở giáo dục.

– Sao thế, em có năng khiếu viết lách mà, sao không xin vô đài phát thanh truyền hình hay tòa soạn báo thử coi?

– Thưa thầy, em chỉ duy nhất muốn đi dạy, nghề dạy học em thấy hay quá. Em thèm cảm giác đứng trên bục giảng nhìn đôi – mắt – đàn – em – long – lanh…

Thầy hắn tủm tỉm cười. Thiệt ra, muốn làm thầy đâu nhứt thiết phải đi dạy. Có kẻ cả đời đi dạy mà có ai tôn là thầy đâu. Có người không đứng lớp ngày nào vẫn có học trò tôn vinh đó thôi. Hắn hiểu chuyện đó quá đi chứ. Nhưng người lớn nên nhìn sự việc bằng con mắt trẻ trung phơi phới mới hiểu hắn thèm đi dạy biết bao. Đúng là “cá trong lờ đỏ mắt, cá ngoài lờ lúc lắc muốn vô”.

Một đàn anh từng bỏ nghề giáo sang làm nghề văn hỏi hắn:

– Nè, tạp chí Sông Ba thiếu chân biên tập, thích làm không anh xin cho? Họ cần người làm được việc chứ không cần đứa nhiều tiền.

Hắn run run trả lời:

– Dạ để em coi đã.

– Coi cái gì, có được phân công đi dạy đâu mà coi.

– Dạ lỡ vô làm, năm tới nẫu kêu đi dạy, tiếc lắm.

Người đó lấy tay day vô trán hắn:

– Em có “vấn đề” đấy nghen. Thời buổi này sao có đứa còn mê đi dạy dữ không biết!

Sáng sớm nọ “giới chữ nghĩa” tụ họp uống cà phê ở Thư Quán. Một đàn anh giỏi làm báo chí hỏi hắn:

– Ê, đài phát thanh tỉnh thiếu người biên tập trang văn nghệ đó, có làm không tao nói giúp một tiếng?

Hắn im lặng một lúc rồi mím môi nói lý nhí:

– Dạ em chỉ muốn đi dạy thôi.

Người kia đập bàn:

– Nói thiệt nghen, mấy đàn anh ngồi đây bực mình mày lâu nay rồi đó. Đi dạy hay ho gì, cứ mở miệng ra là đòi đi dạy, mà ai cho mày dạy. Mày rất đáng thương nhưng bây giờ đáng ghét lắm. Thiệt thà quá cũng đáng ghét.

Hắn cứ mãi chờ đợi “được đi dạy” mỏi mòn thân xác, mòn mỏi tinh thần. Hết xuân rồi hạ, hết thu sang đông, buồn tê tái vào mỗi dịp khai trường, ngày Hiến chương nhà giáo, ngày thành lập Đoàn… Khốn nỗi khi viết văn, văn phải vui tươi; khi làm thơ, thơ phải lạc quan yêu đời thì tác phẩm mới mong xuất hiện trên báo chí. Hắn đem mấy đồng nhuận bút đưa mẹ, mẹ hắn mắng yêu: “Cái thằng làm bộ làm tịch không à!”.

Khá lâu sau hắn đến nhà thầy dạy văn, mặt mày xanh xám nói như khóc: “Em chỉ còn mỗi con đường tự tử thôi”. Thầy hắn nghe rùng mình. Thầy thân chinh xuống sở giáo dục, phẫn nộ: “Cái thằng thiệt tốt vậy sao mấy ông không cho nó đi dạy? Nó đợi bốn năm rồi đấy, nó đòi tự tử đấy”.

Liền năm sau sở phân ngay cho hắn đi dạy trung học cơ sở ở một rẻo cao của tỉnh; đó được coi là nghĩa cử hiếm gặp của phòng tổ chức sở. Từ ngày đó đến nay đã ba bốn năm trời, không ai thấy hắn có bài thơ, tạp bút nào đăng báo nữa. Hắn lặn mất tăm trong mắt giới văn nghệ tỉnh nhà.

Ngày kia, một đàn anh làm ở hội văn học nghệ thuật có chuyến công tác miền núi, gặp hắn phụ vợ bày hàng khô ra chợ bán lúc sương sớm còn giăng giăng thung núi phía xa. Đàn anh thay mặt hội rủ hắn, một cựu hội viên, qua bên kia đường uống cà phê. Hắn sang, ẵm nách theo thằng con chừng hai tuổi, tóc lơ thơ vài cọng, mũi dãi lòng thòng. Ngó qua bên kia chợ, thấy vợ hắn ngồi vắt chân trên sạp hàng, miệng mời chào lảnh lói, mặt xinh đanh đá.

Coi như xong. Hắn viết văn làm thơ gì nổi nữa! Hắn đứng trên bục giảng có còn thấy mắt – đàn – em – long – lanh?

Nguồn: Tuổi Trẻ Online/văn học

11.12.2010 Posted by | Văn học - Nghệ thuật | , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ba mươi bốn năm ngày ấy

Ảnh: tự chụp

Tác giả: Đỗ Kinh Thi

Hai mươi – mười một đến đây rồi.

Trở giấc mơ xưa năm tháng khơi.

Màu trắng thưở nào vương trí bạn,

Sắc xanh ngày ấy đọng tâm tôi.

Phấn buông, bảng tróc trêu đời giấy,

Mực cạn, bút cùn chọc tuổi trôi.

Xà ích – sông hồ còn dấn bước.

Răng long, tóc bạc vẫn bồi hồi.

 

(20/11/1976-20/11/2010)

Nguồn: Bửu Châu’s Blog

 

20.11.2010 Posted by | Văn học - Nghệ thuật | , | 2 phản hồi